Blog

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)

Cùng Trường Cao Đẳng Kiên Giang tìm hiểu các bài văn mẫu Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.

Phân tích tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là tài liệu ôn tập Ngữ văn 9 cũng như ôn thi vào lớp 10 môn Ngữ văn hay, giúp các bạn hiểu thêm về tác giả, tác phẩm cũng như nhân vật Vũ Nương, tính cách, cuộc đời nàng, những ràng buộc phong kiến xã hội… Từ đó thêm cảm nhận, cũng như ý tưởng mới khi phân tích tác phẩm.

Dàn ý Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

Mẫu dàn ý 1

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả Nguyễn Dữ, và tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương”.

2. Thân bài

a. Vẻ đẹp của Vũ Nương

Vũ Nương là cô gái xinh đẹp: tư dung tốt đẹp.

Là cô gái có đức tính tốt đẹp: thùy mị, nết na.

→ Khiến chàng Trương đem lòng yêu mến và cưới về làm vợ.

Ngày chồng tòng quân: nàng đau lòng, dặn dò và mong chồng bình an trở về.

Khi chồng ra trận: ở nhà một lòng một dạ chăm sóc con trai và chăm sóc mẹ chồng những ngày cuối đời.

→ Là người vợ hiền lành, đảm đang, đầy đủ “công – dung – ngôn – hạnh” đáng ngưỡng mộ.

→ Là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ với những phẩm hạnh tốt đẹp.

b. Số phận bi kịch của Vũ Nương

Nguyên nhân: khi chồng bế con ra thăm mộ mẹ, đứa nhỏ đã tiết lộ bố nó đêm nào cũng đến thăm nó → Trương Sinh đem lòng nghi ngờ, ghen tuông.

Khi Trương Sinh về nhà đã chửi mắng nàng và đuổi nàng đi mặc cho nàng van xin và thanh minh.

→ Người phụ nữ không được tự quyết định số phận của mình mà phải phụ thuộc vào người đàn ông tỏng gia đình. Tuy mình bị oan nhưng không được thanh minh.

Để chứng minh tấm lòng chung thủy của mình Vũ Nương đã nhảy sông tự tử.

→ Đau khổ, xót thương trước số phận bất hạnh của nàng sau những điều tốt đẹp nàn dã làm cho nhà chồng.

Sau này, khi Trương Sinh hiểu ra oan khuất của nàng đã vô cùng đau xót nhưng nàng không thể trở về nhân gian được nữa mà mãi ở lại nơi thủy cung. → Đây được coi là cái kết vừa có hậu vừa đoản hậu của Vũ Nương: có hậu vì cuối cùng nàng cũng được minh oan và khiến cho người làm nàng đau khổ là Trương Sinh nhận ra lỗi lầm, ân hận về lỗi lầm đó; đoản hậu vì nàng không được quay lại nhân gian để sống tiếp kiếp người, để nhận lại phúc đức sau những nghĩa cử cao đẹp nàng đã làm.

3. Kết bài

Khẳng định lại vẻ đẹp, số phận của Vũ Nương và giá trị của tác phẩm.

Phân tích tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

Mẫu dàn ý 2

I. Mở bài

– Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm:

Nguyễn Dữ: quê ở Ninh Thanh (Hải Dương), là người học rộng tài cao, có nhân cách sáng ngời. Ông sống trong xã hội loạn lạc, chế độ phong kiến thối nát, ông viết sách và để lại một số thơ và cuốn văn xuôi cổ Truyền kì mạn lục viết bằng chữ Hán.

Chuyện người con gái Nam Xương là câu chuyện thương tâm về cái chết oan khuất của nhân vật Vũ Nương, tác giả thể hiện niềm thương cảm sâu sắc đối với thân phận người phụ nữ, đồng thời ca ngợi phẩm chất đáng quý của họ trong xã hội phong kiến.

II. Thân bài

1. Phân tích nhân vật Vũ Nương

* Những phẩm chất cao đẹp của nhân vật Vũ Nương

Vũ Nương là người con gái tính tình đã thùy mị, nết na lại thêm tư dung tốt đẹp

Vũ Nương lấy người chồng là Trương Sinh tính tình đa nghi, hay ghen nhưng chưa bao giờ nàng để vợ chồng bất hòa

Khi chồng ra trận, nàng ở nhà hết mực thủy chung với chồng, phụng dưỡng, hiếu thảo với mẹ chồng và chăm sóc con cái

→ Nàng làm trọn bổn phận người phụ nữ tam tòng tứ đức một cách hoàn hảo

* Nỗi oan và cái chết của Vũ Nương

Khi chồng trở về nghe lời đứa con nhỏ dại liền nghi oan và trách mắng Vũ Nương

Nàng đau đớn, thất vọng trước sự đối xử bất công và tàn nhẫn của chồng

Vũ Nương lựa chọn cái chết để rửa nỗi nhục → đây là hành động quyết liệt nhất chất chứa nỗi tuyệt vọng cay đắng, sự bất lực của thân phận

Khi sống dưới thủy cung, nàng vẫn khôn nguôi nhớ về cuộc sống trần thế

Nguyên nhân cái chết của Vũ Nương:

+ Trực tiếp: lời nói ngây thơ của bé Đản

+ Gián tiếp: người chồng tính tình đa nghi, hay ghen đã cư xử hồ đồ, phũ phàng. Do ngay từ đầu cuộc hôn nhân không có sự bình đẳng. Do chiến tranh và lễ giáo phong kiến hà khắc

2. Giá trị nội dung và nghệ thuật

* Giá trị nội dung

Giá trị hiện thực: phê phán tố cáo xã hội phong kiến bất công chà đạp lên số phận người phụ nữ, người phụ nữ chịu nhiều oan khuất, bế tắc nhưng không tự bảo vệ được mình

Giá trị nhân đạo: ca ngợi phẩm chất tốt đẹp và thương cảm cho người phụ nữ thông qua hình tượng nhân vật Vũ Nương

* Giá trị nghệ thuật

Xây dựng tình huống truyện độc đáo đặc biệt chi tiết chiếc bóng, nhằm hoàn thiện thêm vẻ đẹp nhân cách cho nhân vật Vũ Nương nhưng cũng thể hiện rõ nét bi kịch số phận nhân vật

Nghệ thuật dựng truyện: tình huống truyện éo le, dẫn tới nhiều bất ngờ thú vị, tăng tính bi kịch của truyện

Xây dựng thành công nhân vật qua lời nói và hành động, kết hợp với các hình ảnh ước lệ tượng trưng.

III. Kết bài

Chuyện người con gái Nam Xương là tác phẩm xuất sắc góp phần vào tiếng nói chung đòi sự bình đẳng cho người phụ nữ.

Truyện xây dựng thành công hình tượng nhân vật Vũ Nương, thể hiện niềm xót thương thân phận người phụ nữ xưa và thông qua đó ca ngợi phẩm chất son sắt, thủy chung của họ.

Nội dung tóm lược Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

Phân tích nhân vật Vũ Nương 

– Vũ Nương là một người phụ nữ đẹp cả người lẫn nết, thể hiện qua câu văn miêu tả “tính tình thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp

– Với “tư dung” tốt đẹp của Vũ Nương, Trương Sinh đã phải xin mẹ “đem 100 lạng vàng” để cưới được nàng làm vợ. Chi tiết này là minh chứng rõ ràng cho vẻ đẹp và phẩm chất của nàng trong thời kì phong kiến xưa cũ

Về ngoại hình và phẩm chất, Vũ Nương là biểu tượng của người phụ đẹp trong xã hội phong kiến. Song để có thể hiểu rõ hơn về nhân vật, ta cần đặt Vũ Nương trong các mối quan hệ khác nhau có trong truyện, gồm: mối quan hệ vợ chồng, mối quan hệ với mẹ chồng, mối quan hệ với con trai.

1. Nhân vật Vũ Nương trong mối quan hệ với chồng: Đối với Trương Sinh là một người vợ thủy chung, dành tình yêu thương hết mực cho chồng

Trong cuộc sống vợ chồng: 

– Vũ Nương hiểu rằng chồng mình “có tính đa nghi”, “đối với vợ phòng ngừa quá sức”. Vì vậy, nàng rất khéo léo trong cách cư xử, luôn giữ chừng mực, giữ gìn khuôn phép để tránh vợ chồng thất hòa.

=> Có thể thấy, trong hôn nhân, Vũ Nương là một người phụ nữ có đủ đức hạnh, sự nết na, khôn khéo và đặc biệt hiểu tâm lý chồng. Mặt khác, sự đối lập trong tính cách của Vũ Nương và Trương Sinh từ đầu đã dự báo mâu thuẫn giữa hai người trong cuộc sống sau này.

Khi tiễn biệt chồng đi lính:

Tính cách nhân vật Vũ Nương trong thời điểm này được thể hiện rõ qua những lời dặn dò thiết tha tình nghĩa mà nàng dành cho Trương Sinh:

– “Thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. Câu nói thể hiện rằng, Vũ Nương luôn đặt hạnh phúc gia đình lên trên tất cả. Nàng không phải người ham những thứ vinh hoa phù phiếm mà chỉ mong có một cuộc sống bình yên cùng chồng.

– “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao”. Lời dặn cho thấy, Vũ Nương cảm thông cho nỗi vất vả, gian lao phía trước mà chồng sẽ phải chịu đựng ở nơi chiến trường xa xôi

– “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trồng liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình”. Câu nói thể hiện tâm trạng khắc khoải, xa nhớ chồng mà nàng sắp phải trải qua

=> Có thể thấy, qua những lời dặn mà Vũ Nương nói với Trương Sinh trước khi ra trận đã thể hiện nàng là một người vợ thương chồng hết mực, không màng vật chất, một người phụ nữ đáng trân trọng.

Trong thời gian chồng đi lính:

– Trong thời gian xa chồng, Vũ Nương đã bộc lộ bản thân là một người vợ thủy chung, dành tình yêu thương hết mực cho chồng. Nàng nhớ chồng đến nỗi “mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi” là nàng lại cảm thấy thổn thức tâm tình, nhớ thương da diết.

– Trong nỗi nhớ khôn nguôi ấy, nàng đã cùng con trai tưởng tượng cái bóng trên tường chình là hình ảnh người chồng, người cha của gia đình. Dường như nàng đang mơ về một tương lai bình yên bên chồng và con trai, mơ về một ngày gia đình đoàn tụ

– Sau nhiều năm một mình nuôi con, Vũ Nương vẫn giữ được tiết hạnh. Điều này được khẳng định trong câu nói trong buổi thanh minh: “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”

=> Có thể thấy, lời văn miêu tả của Nguyễn Dữ, cùng với đó là tâm trạng nhớ thương, buồn đau của Vũ Nương đã thay cho lời ngợi ca tấm lòng son sắcmột lòng một dạ thủy chung của nàng

Khi bị chồng nghi oan thất tiết:

Vũ Nương đã nỗ lực phân trần với hy vọng Trương Sinh có thể hiểu rõ tấm lòng thủy chung, trinh bạch của mình. Diễn biến lời phân trần của nàng được biểu hiện như sau:

– Ban đầu, nàng đã nhắc đến thân phận “con kẻ”, để lấy được tấm chồng giàu là điều không thể: “Thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu”. Vậy nên khi lên duyên vợ chồng với Trương Sinh, nàng đã xác định sẽ sống một cuộc đời bình yên, hạnh phúc bên gia đình nhỏ

– Sau đó, để khẳng định tấm lòng chung thủy, son sắt, trong trắng và vẹn nguyên của mình, Vũ Nương đã bộc bạch rằng: “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết”. Nghĩa là trong 3 năm xa chồng, tuy cô đơn nhưng chưa bao giờ nàng nghĩ đến việc lừa dối chồng, vẫn một lòng một dạ với lời hứa trước khi xa chàng.

– Cuối cùng, Vũ Nương cầu xin chồng lắng nghe lời bày tỏ của mình để ngừng nghi oan và hiểu lầm: “Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”.

=> Khi bị chồng nghi ngờ, Vũ Nương đã hết sức nhún nhường, tha thiết mong được hàn gắn hạnh phúc gia đình. Thông qua những lời bộc bạch tha thiết đó, có thể thấy, Vũ Nương vô cùng trân trọng chồng mình và gia đình nhà chồng, luôn đặt hạnh phúc gia đình lên hàng đầu.

Khi không thể thuyết phục được Trương Sinh, Vũ Nương trở nên mất hy vọng, sự đau đớn và thất vọng thể hiện qua các chi tiết miêu tả:

– Trước kia, hạnh phúc gia đình chính là “thú vui nghi gia, nghi thất” của Vũ Nương. Nhưng sau khi bị chồng nghi oan và không tin tưởng, những niềm vui, mơ ước về cuộc sống yên bình hạnh phúc cả đời đã tan vỡ.

– Những hình ảnh ước lệ trong câu văn: “bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió” thể hiện tình yêu của cuộc đời nàng giờ đây đã lụi tàn, không thể hàn gắn

– Bi kịch của Vũ Nương khiến nàng thậm chí không thể có được nỗi đau chờ chồng của “cổ nhân”: “đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa”

=> Sau bao nỗ lực, cố gắng thì tình yêu, hạnh phúc gia đình giờ đã không còn ý nghĩa. Vũ Nương mất đi động lực sống và tồn tại bấy lâu nay của mình.

Nàng bị cự tuyệt quyền yêu, quyền được hạnh phúc, nàng dường như đã bị cự tuyệt quyền tồn tại, không còn lý do nào để tiếp tục sống nữa.

– Vũ Nương đến bến Hoàng Giang với mong muốn giải tỏa nỗi lòng mình, những lời nàng chỉ mong được chồng thấu hiểu. Nàng thề rằng bản thân vẫn còn trinh bạch, sống không thẹn với lương tâm, chết không thẹn với trời đất: “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho tôm cá, trên xin làm cơm cho diều quạ”

Vũ Nương tìm đến cái chết sau tất cả sự cố gắng phân trần với chồng nhưng không thành

=> Để bảo vệ phẩm giá cũng như chứng minh cho sự trong sạch của mình, Vũ Nương quyết định trẫm mình tự vẫn. Đối với nàng – một người con gái thủy chung, đức hạnh và giàu đức hi sinh ấy, phẩm giá quan trọng hơn sự sống.

2. Nhân vật Vũ Nương trong Thời gian sống dưới thủy cung:

Ở chốn cung nước, nàng vẫn một lòng hướng về chồng con, hướng về gia đình nhỏ, tuy đã gieo mình xuống sông tự vẫn nhưng thực chất vẫn khao khát giấc mơ đoàn tụ. Biểu hiện rõ nhất qua lần nàng gặp Phan Lang – một người cùng làng:

– Khi nghe Phan Lang kể về chuyện gia đình nơi trần thế, nàng không kìm được lòng mà ứa nước mắt xót thương

– Khao khát lớn nhất của nàng là được trả lại phẩm giá, danh dự. Vì vậy, nàng gửi chiếc thoa vàng cho Phan Lang, nhờ anh nhắn tới chồng để lập đàn giải oan cho mình

– Mặc dù rất thương nhớ chồng con, mong muốn gia đình đoàn tụ nhưng Vũ Nương quyết ở lại thủy cung, cùng sống chết bên Linh Phi. Điều này minh chứng nàng rõ ràng cho việc là một người trọng tình, trọng nghĩa, cho dù có chết cũng không bao giờ lừa dối bất kỳ ai.

=> Với vai trò là một người vợ, Vũ Nương là một người phụ nữ chung thủy, mẫu mực, lí tưởng trong xã hội phong kiến. Trong trái tim của người phụ nữ ấy chỉ có tình yêu, lòng bao dung và sự vị tha.

3. Nhân vật Vũ Nương quan hệ với mẹ chồng trong Chuyện người con gái Nam Xương: Nàng thể hiện hình ảnh người con dâu hiếu thảo

– Kể từ ngày chồng đi vắng, Vũ Nương không những đã thay chồng làm tròn trách nhiệm của người con, mà còn phụ trách công việc của người trụ cột trong gia đình. Khi mẹ chồng ốm đau, nàng cũng hết mực chăm sóc: “hết sức thuốc thang lễ bái thần phật”. Thấy mẹ già phải xa con trai, nàng “lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn” để mẹ bớt lo lắng.

– Tuy không chung máu mủ ruột thịt nhưng mẹ chồng mất, Vũ Nương thương xót vô cùng. Nàng lo liệu ma chay chu toàn như cha mẹ ruột của mình

– Nhận thấy tình cảm con dâu dành cho nhà chồng, trước khi mất, mẹ chồng đã nhắn nhủ “Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Lời trăng trối của bà mẹ là minh chứng cho lòng hiếu thảo và tình cảm chân thành mà Vũ Nương đã dành cho gia đình nhà chồng. Qua đó thấy được công lao to lớn và sự trân trọng của Vũ Nương đối với gia đình.

4. Nhân vật Vũ Nương trong mối quan hệ với con trai: Nàng dành trọn tình cảm cho con và yêu thương con hết lòng

– Dù thiếu vắng Trương Sinh, Vũ Nương vẫn cố gắng một mình sinh con. Hơn nữa, nàng còn dành nhiều thời gian để nuôi nấng và dạy dỗ con khôn lớn.

– Vì phải xa chồng ngay lúc gần hạ sinh, Vũ Nương sau đó không chỉ mang trọng trách của một người mẹ, mà còn phải gánh trọng trách của cả người cha. Làm sao để con trai luôn cảm thấy hình ảnh một người cha yêu thương con hết mực luôn bên cạnh, để con luôn sống với tình cảm gia đình đủ đầy, đầm ấm.

– Là một người mẹ tâm lý, sợ con lớn lên thiếu thốn tình cảm từ cha, nàng sớm đã vẽ lên trước mắt người con về một mái ấm gia đình hoàn hảo với cả cha và mẹ. Để làm được điều đó, nàng chỉ vào cái bóng của mình trên vách vào buổi đêm mà bảo đó là cha của Đản.

phan-tich-chuyen-nguoi-con-gai-Nam-Xuong-2
Vũ Nương sử dụng hình bóng để bù đắp tình thương của cha cho bé Đản

=> Tóm lại, Vũ Nương trong cả 3 mối quan hệ với gia đình là chồng, mẹ chồng và con trai đều hết sức tận tụy và chu toàn. Nàng hoàn thành tốt trọng trách của một người vợ. Nàng là một người con dâu hiền lành và hiếu thảo. Với vai trò là người mẹ, nàng luôn dành những gì tốt đẹp nhất cho con của mình. Qua những công lao đó, đáng lẽ nàng phải được hưởng một cuộc sống hạnh phúc viên mãn. Thế nhưng, đau lòng thay, cánh cửa hạnh phúc đã đóng lại với số phận của nàng.

Phân tích nguyên nhân dẫn đến cái chết của Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương

a. Nguyên nhân trực tiếp

 Chiếc bóng mà con trai tưởng tượng là cha trên váchDo trước đó, Vũ Nương đã chỉ vào chiếc bóng trên vách và bảo đó là cha Đản khiến bé Đản vô tình tin rằng đó là cha mình. Cho đến khi Trương Sinh trở về, Đản đã không nhận ra và vô tình khiến mẹ bị oan.

b. Nguyên nhân gián tiếp

– Hôn nhân không cân xứng và sự đối lập trong tính cách: Vũ Nương vốn là “con kẻ khó” nhưng lại được hỏi cưới bằng “trăm lạng vàng”. Sự đối lập gia cảnh cùng với tính “đa nghi” của Trương Sinh là tiền đề dẫn đến những hành động gia trưởng với Vũ Nương.

– Trương Sinh không có sự tin tưởng và tình thương dành đối với vợ của mình

– Lễ giáo phong kiến quá hà khắc: Chế độ nam quyền đã khiến cho người đàn ông tùy tiện thể hiện thói độc đoán, gia trưởng, áp đặt định kiến lên người phụ nữ.

– Chiến tranh phong kiến khiến Vũ Nương phải xa cách chồng, con xa cách cha. Sự xa cách như ngọn lửa âm ỉ chỉ trực cơ hội bùng lên, tàn phá hạnh phúc gia đình, phá hỏng cuộc đời của một người phụ nữ.

Một vài chi tiết đặc sắc trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương

a. Các chi tiết kì ảo trong tác phẩm

– Khi Phan Lang nằm mơ thấy người con gái áo xanh đến xin tha mạng. Ngay sáng hôm sau đã được người phường chài đem biếu con rùa mai xanh. Nhớ lại giấc mơ, Phan Lang liền thả rùa đi.

– Phan Lang bị chết đuối. Tuy nhiên, vì có công nên được cứu sống bởi Linh Phi. Sau đó gặp Vũ Nương (người cùng làng) dưới thủy cung. Về sau được rẽ nước đưa về trần gian

– Trương Sinh lập đàn giải oan cho vợ tại bến Hoàng Giang nơi Vũ Nương tự vẫn. Vũ Nương về, loáng thoáng xuất hiện giữa dòng, biến mất sau khi nói lời từ biệt.

b. Ý nghĩa các chi tiết đặc sắc

– Thể hiện tính chất của thể loại truyền kì

– Tạo sự li kì, hấp dẫn cho câu chuyện và kích thích người đọc tưởng tượng

– Giúp tăng thêm giá trị hiện thực và tính nhân văn của tác phẩm

– Thể hiện mong muốn của con người về sự bất tử, cái thiện, cái đẹp luôn thắng

– Thể hiện khao khát một cuộc sống công bằng, hạnh phúc cho những phụ nữ trong xã hội cũ

– Giúp hoàn thiện vẻ đẹp tính cách của nhân vật Vũ Nương: cho dù ở một thế giới khác, nàng vẫn luôn hướng về gia đình và khát khao được giải oan

Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo rút ra sau tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương

a. Giá trị hiện thực

– Phản ánh chân thực số phận bất hạnh, chênh vênh của người phụ nữ trong chế độ phong kiến

– Lên án xã hội phong kiến đương thời với đầy những bất công: tạo điều kiện cho chế độ nam quyền khiến người phụ nữ có tiếng nói, không thể bảo vệ nhân phẩm của chính mình

– Lên án chiến tranh phong kiến khiến gia đình ly biệt, đời sống người dân rơi vào bế tắc, cùng cực

b. Giá trị nhân đạo

– Trân quý và tôn trọng vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ

– Bộc lộ niềm tin vào tương lai tốt đẹp: gửi gắm những niềm tin ngàn đời của nhân dân ta vào giáo trị nhân văn “ở hiền thì gặp lành”

– Tác phẩm thể hiện sự cảm thông, xót xa của tác giả đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến

– Là lời tố cáo chế độ độ phong kiến hà khắc cùng chế độ nam quyền, thứ đã dồn ép người phụ nữ đến đường cùng và khiến nhiều gia đình tan vỡ.

Tổng kết chung phân tích Chuyện người con gái Nam Xương Ngữ Văn 9

1. Về nội dung

– “Chuyện người con gái Nam Xương” là tác phẩm giàu ý nghĩa, trong đó rõ ràng nhất là niềm cảm thương sâu sắc trước số phận đáng thương của người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ phong kiến. Qua đó làm nổi bật những vẻ đẹp phẩm chất quý báu của họ.

– Tác phẩm còn được xem như một thông điệp tới tương lai: phụ nữ cần có quyền bình đẳng để phát huy phẩm chất và năng lực tốt đẹp của mình. Có như vậy thì xã hội mới tiến đến văn minh, tiến bộ

2. Về nghệ thuật

– Tác phẩm sở hữu tình huống truyện mới lạ, độc đáo: cao trào nằm ở sự ngộ nhận ngây thơ ở lời nói của bé Đản. Trong đó, hình ảnh cái bóng chính là điểm mấu chốt của tình huống truyện. Từ đó, mạch truyện được thắt nút, mở nút đầy hấp dẫn, kích thích sự tò mò của người đọc.

– Nghệ thuật kể chuyện đặc sắc: tác giả đã dẫn dắt tình huống rất hợp lý khi để lời thoại của nhân vật đan xen với lời kể của tác giả. Đặc biệt, điểm nhấn nghệ thuật thể hiện qua sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo.

– Kết hợp hài hòa các phương thức biểu đạt: tự sự, biểu cảm giúp tác phẩm trở nên bớt khô khan hơn mà vẫn mang lại cảm xúc cho người đọc

Trên đây là toàn bộ nội dung Phân tích tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của tác giả Nguyễn Dữ. Hy vọng với phần phân tích trên đã giúp các bạn học sinh hiểu sâu hơn về tác phẩm, nắm vững kiến thức để chuẩn bị cho các kỳ thi học kỳ thi!

Các bài văn mẫu Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 1

Nguyễn Dữ là 1 bộ mặt điển hình tiêu biểu cho nền văn chương trung đại Việt Nam ở thế kỉ thứ XVI. Dù rằng, sự nghiệp sáng tác văn học của Nguyễn Dữ chỉ vẻn vẹn có tập truyện “Truyền kì mạn lục” mà tập truyện lại có 1 địa điểm đặc thù, được bình chọn là “thiên cổ kì bút” (bút lạ ngàn đời), “là áng văn hay của bậc đại gia”. Đây là tập truyện viết bằng chữ Hán, khai thác các truyện cổ dân gian và các truyền thuyết lịch sử, dã sử Việt Nam.

“Chuyện người con gái Nam Xương” là thiên thứ 16, trong tổng số 20 truyện của “Truyền kì mạn lục”. Thông qua thảm kịch Vũ Nương, truyện trình bày niềm thương cảm đối với số mệnh oan trái của người nữ giới Việt Nam dưới cơ chế phong kiến, cùng lúc khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ. Tác phẩm là 1 áng văn lạ mắt, ghi lại sự thành công về nghệ thuật dựng truyện; khắc họa mô tả đối tượng và sự liên kết giữa tự sự với trữ tình, giữa nhân tố hiện thực và huyền ảo.

Trước hết, “Chuyện người con gái Nam Xương” đã khắc họa thành công vẻ đẹp truyền thống và số mệnh oan trái của người nữ giới đương thời. Điều này được trình bày qua nghệ thuật dựng truyện và xây dựng hình tượng đối tượng Vũ Nương. Vũ Nương là 1 người con gái đẹp người, đẹp nết, đại diện cho vẻ đẹp của người nữ giới thời gian phong kiến: “tính đã thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”.

Trương Sinh vì cảm mến cái dung hạnh đấy nên đã xin mẹ trăm lạng vàng để cưới về làm vợ. Sau đấy, nhà văn tập hợp làm nổi trội vẻ đẹp tiết hạnh của nàng, bằng việc đặt Vũ Nương vào rất nhiều tình cảnh, cảnh huống và các mối quan hệ bao quanh như với chồng, với mẹ chồng và với đứa đàn ông tên là Đản, từ đấy góp phần biểu lộ toàn vẹn tính cách, phẩm hạnh của nàng.

Trước tiên là Vũ Nương trong mối quan hệ với người chồng – Trương Sinh. Nàng hiện lên là 1 người vợ nhất định chung tình, mến thương chồng thiết tha. Trong cuộc sống vợ chồng phổ biến, lúc mới lấy nhau, nàng hiểu tính chồng có thói đa nghi, thường dự phòng vợ quá mức nên Vũ Nương đã cư xử khôn khéo, đúng đắn, nhịn nhường và giữ đúng mực thước, ko bao giờ để xảy ra nỗi bất hòa trong gia đình.

Vì vậy, chúng ta có thể thấy, nàng là người nữ giới hiểu chồng, biết mình và rất tiết hạnh. Khi người chồng sẵn sàng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy và căn dặn Trương Sinh bằng những lời nói đầy tình nghĩa, đằm thắm. Nàng ko mong vinh hiển, chỉ cần chồng mang về 2 chữ “bình an”. Ở nhà, Vũ Nương thương nhớ chồng da diết. Mỗi lần thấy “bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi” nàng lại cảm thấy “thổn thức tâm tư”, thương nhớ chồng nơi biên cửa ải xã xôi.

Tiết hạnh của nàng còn được khẳng định lúc nàng bị chồng nghi oan: “xa cách 3 5, giữ trọn 1 tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót…”. Khi Trương Sinh đi lính trở về, 1 mực một mực cho rằng nàng thất tiết, Vũ Nương đã ra công phân bua để cho chồng hiểu, nói lên thân phận của mình, nhắc đến nghĩa tình phu thê và khẳng định 1 lòng nhất định chung tình, son sắt với chồng.

Thậm chí, nàng còn cầu xin chồng “đừng nghi oan cho thiếp”. Có tức là Vũ Nương đang ra công giữ giàng, hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ đổ vỡ. Điều đấy cho thấy nàng thực thụ rất trân trọng hạnh phúc gia đình nhưng mà mình đang có và càng làm nổi trội lên niềm khát khát hướng đến hạnh phúc gia đình yên ấm của người nữ giới Vũ Nương.Tiếp tới, Vũ Nương trong mối quan hệ với mẹ chồng và nhỏ Đản. Nàng hiện lên là 1 người con hiếu hạnh, 1 người mẹ hết mực tâm lí, mến thương con cái.

Chồng đi lính, ở nhà, nàng 1 mình sinh con, nuôi dạy con, vừa vào vai trò là 1 người mẹ, lại vừa vào vai trò là 1 người cha. Nàng sợ con mình thiếu thốn tình cảm của người cha nên đêm đêm thường mượn bóng mình, chỉ vào tường nhưng mà bảo là cha Đản. Nàng thay chồng làm tròn trách nhiệm, phận sự của 1 người con hiền, dâu thảo: chăm nom, thuốc men, lễ bái thần Phật, hết dạ khuyên nhủ mẹ chồng.

Tới lúc mẹ chồng mất, nàng tổ chức hậu sự tế lễ tỷ mỉ như với bác mẹ đẻ của mình vậy. Vì vậy, bà mẹ chồng đã viện cả trời xanh để chứng minh cho lòng hiếu hạnh của cô con dâu: “Xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Điều đấy đã cho thấy tư cách hoàn hảo và công huân mập mập của Vũ Nương đối với gia đình nhà chồng này.

Như vậy, 1 người nữ giới đẹp người, đẹp nết đảm đang, hiếu hạnh, nhất định chung tình và hết dạ vun đắp, trân trọng hạnh phúc gia đình như thế, đáng đúng ra phải thừa hưởng hạnh phúc toàn vẹn, tìm được 1 người chồng tâm lí, thông cảm và sẻ chia những nỗi toan lo cho vợ, mà thật trái ngang và nghịch lí thay, nàng lại phải chịu 1 cuộc sống gia đình xấu số và phải chết trong đớn đau, xót xa, đầy nước mắt.

Đấy là lúc Trương Sinh sau 3 5 đi lính trở về, nhỏ Đản ko chịu nhận cha, nghe lời nói của con “Trước đây, thường có 1 người con trai, đêm nào cũng tới, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, những chẳng bao giờ bế Đản cả”, Trương Sinh nhất nhất cho rằng “vợ hư”. Dù rằng Vũ Nương đã tìm cách để giảng giải lại thêm họ hàng, thôn ấp bênh vực và biện bạch cho nàng mà mối nghi ngại vợ của Trương Sinh càng ngày càng sâu, ko có gì gỡ ra được.

Cuối cùng “cái niềm vui nghi gia nghi thất” đã ko còn “bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió”, cả nỗi đau chờ chồng tới hóa đá cũng ko còn có thể được nữa “đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa”. Nàng đã trẫm mình xuống dòng nước Hoàng Giang lạnh lẽo. Đấy là hành động quyết liệt để bảo toàn danh dự, phẩm chất trong 1 nỗi đau thất vọng cơ cực, đớn đau.

Vậy đâu là nguyên cớ dẫn đến cái chết oan trái của Vũ Nương. Đấy trước nhất là do cụ thể cái bóng và những lời nói thơ ngây của nhỏ Đản. Nhưng nguyên cớ sâu sa đằng sau đấy là từ người chồng đa nghi, thô bạo. Ngay từ đầu truyện, nhà văn đã giới thiệu Trương Sinh là ” con nhà hào phú mà ko có học”, lại có tính đa nghi, đối với vợ thì hay phòng đề phòng quá mức, thiếu cả lòng tin và tình thương với người tay ấp má kề với mình.

Đấy chính là mầm mống của thảm kịch để rồi trong tình cảnh đi lính 3 5 xa nhà, xa vợ, thói ghen tuông tuông, ích kỉ của bản thân chàng nổi lên và làm thịt chết người vợ của mình. Cùng lúc, cơ chế phong kiến khắc nghiệt, nam quyền độc đoán đã dung túng cho thói gia trưởng của người con trai, cho phép người con trai có thể đối xử bạc nghĩa với người nữ giới của mình.

Và người nữ giới ko có quyền được lên tiếng, ko có quyền tự bảo vệ ngay cả lúc có “họ hàng, thôn ấp bênh vực và biện bạch cho”…Tất cả đã đẩy Vũ Nương – người nữ giới đẹp đương thời vào trục đường thảm kịch, phá tan đi những hạnh phúc gia đình của người nữ giới, dồn đẩy họ vào trục đường cùng ko lối thoát.

Cũng cần nói thêm, sự thành công của “Chuyện người con gái Nam Xương” còn được trình bày ở chỗ, Nguyễn Dữ đã khôn khéo dẫn dắt câu chuyện trên cơ sở tình tiết có sẵn, ông đã bố trí lại, tô đậm, thêm bớt khiến cho câu chuyện phát triển thành sinh động, mang tính kịch và tăng nhanh tính thảm kịch. Có thể nói, dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ, “Chuyện người con gái Nam Xương” đã có sự thành công vượt trội so với bản kể dân gian “Vợ chàng Trường”.

Điều này được trình bày qua cụ thể chiếc bóng và lời nói của nhỏ Đản. Từ đấy, hình thành sự thắt nút và mở nút của câu chuyện, làm câu chuyện phát triển thành quyến rũ, cốt truyện hấp dẫn, chặt chẽ. Trước tiên là “thắt nút” câu chuyện: chỉ 1 câu nói thơ ngây của 1 đứa trẻ lên 3 nói với cha nhưng mà như 1 cơn bão dây chuyền, đã hình thành biết bao lăm là giống lốc cuộc đời, lật nhào hết tất cả mọi sự bình an thuở trước.

Để rồi, trong 1 chốc hot giận, thói nghi kị trong lòng người con trai độc đoán, chuyên quyền đã phá tan đi hạnh phúc ấm êm nhưng mà mình đang có; đẩy cuộc đời của người nữ giới đẹp người, đẹp nết vào cái chết thương tâm, thấm đẫm nước mắt. Và cũng thật bất thần thay, câu chuyện lại được “gỡ nút” bằng 1 câu nói thơ ấu non dại. Khi thấy cái bóng của Trương Sinh in trên vách, nhỏ Đản liền nói: “Cha Đản lại tới kia kìa!” thì bao lăm oan khúc lại được lật nhào minh bạch. Vũ Nương không có tội!.

Kế bên đấy, truyện còn thành công trong việc sử dụng nghệ thuật hội thoại, lời tự bạch của đối tượng được bố trí đúng chỗ, khiến cho câu chuyện phát triển thành sinh động, góp phần khắc họa diễn biến tâm lí và tính cách đối tượng: lời nói của bà mẹ Trương Sinh nhân đức, trải đời; lời lẽ của Vũ Nương bao giờ cũng chân tình, dịu dàng, mềm dẻo, hợp lí, có tình – lời của người nữ giới hiền thục, đoan trinh; lời của Nhỏ Đản hồn nhiên, thơ ngây, thiệt thà.

Cuối truyện, Vũ Nương hiện về nhấp nhoáng trên chiếc kiệu hoa giữa dòng, võng lọng, cờ kiệu đặc sắc đầy sông, nàng nói lời đa tạ Linh Phi và tạ từ Trương Sinh rồi mất tích. Đây là những cụ thể, hình ảnh trình bày sự thông minh của Nguyễn Dữ về mặt kết cấu truyện bằng việc sử dụng nhân tố huyền ảo, hoang đường, góp phần ngày càng tăng trị giá hiện thực và ý nghĩa nhân bản của tác phẩm, làm nên đặc biệt của thể loại truyền kì.

Giả dụ trong truyện kể dân gian, sau lúc Vũ Nương chết, Trương Sinh giác ngộ, nhìn thấy sai trái của mình thì cũng là khi truyện cổ tích khép lại, điều đấy đã để lại niềm xót xa đớn đau cho người đọc về thân phận xấu số oan khiên của người nữ giới đức hạnh, thì trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, ông đã thông minh thêm phần đuôi của truyện, góp phần làm lên những trị giá thẩm mĩ và tư tưởng mới của truyện.

Đấy là làm hoàn thiện thêm nét đẹp tính cách, phẩm giá của đối tượng và chứng tỏ được Vũ Nương trong lành. Ở toàn cầu bên kia, nàng được đối xử xứng đáng với phẩm chất của mình. Vì vậy, Nguyễn Dữ đã giải quyết được ước mong của con người về sự bất diệt, sự thắng lợi của cái thiện, cái đẹp, trình bày nỗi khao khát hạnh phúc trong 1 cuộc sống công bình, hạnh phúc cho những con người lương thiện, đặc thù là người nữ giới đương thời.

Tóm lại, “Truyền kì mạn lục” khái quát và “Chuyện người con gái Nam Xương” nói riêng của Nguyễn Dữ là 1 tác phẩm lạ mắt, ghi lại 1 bước tăng trưởng đột khởi của nền văn xuôi tự sự chữ Hán trong nền văn chương trung đại Việt Nam. Tác phẩm đã đạt được thành tích nghệ thuật nổi trội trên 3 bình diện: xây dựng cốt truyện, kết cấu; xây dựng đối tượng; sự liên kết giữa nhân tố hiện thực và nhân tố huyền ảo.

Thông qua cuộc đời và số mệnh xấu số của Vũ Nương, tác giả đã phản ảnh số mệnh bi thảm của người nữ giới phong kiến, ca ngợi những phẩm giá tốt đẹp của họ. Cùng lúc, trình bày thái độ phê phán đối với 1 xã hội phi nhân đã gây ra biết bao khổ cực cho con người. Dù rằng truyện cũng cách xa chúng ta vài thế kỉ rồi mà tính thời sự của truyện vẫn còn văng vẳng đến ngày bữa nay!

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 2

Truyền kỳ mạn lục là 1 tác phẩm có trị giá của văn chương cổ nước ta ở thế kỷ XVI, 1 tập truyện văn xuôi bằng chữ Hán trước hết ở Việt Nam. Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” là 1 truyện hay trong tác phẩm đấy được trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

Truyện kể về 1 người nữ giới tên là Vũ Thị Thiết ở huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nam. Vốn là 1 người vợ đoan trinh, đảm đang. Nàng giữ lòng chung thuỷ, phục dịch mẹ chồng, chăm nom con thơ trong suốt thời kì chồng đi lính ở phương xa. Khi trở về vì nghe lời thơ ngây của trẻ nhỏ, người chồng nghi ngại nàng thất tiết nên đánh mắng đuổi đi.

Không thể phân giải được oan tình, nàng trẫm mình ở sông Hoàng Giang. Cảm động vì lòng thật thà của nàng, Linh Phi (vợ vua biển) cứu vớt nàng và cho ở lại Long Cung. Người chồng biết vợ bị oan nên rất ăn năn, lập đàn tẩy oan cho nàng. Vũ Nương hiện lên, ẩn hiện trong giây khắc rồi quay về Long Cung.

Chuyện truyền tụng 1 người nữ giới có phẩm giá, có tâm hồn trong trắng, sáng ngời như ngọc lại bị nỗi oan tày đình vì 1 chuyện ghen tuông tuông vớ vẩn của người chồng nông nổi. Cuối cùng nàng phải tìm tới cái chết để giải nỗi oan tình.

Tác giả đặt đối tượng Vũ Nương vào những tình cảnh không giống nhau, qua đấy biểu lộ những phẩm giá tốt đẹp của người nữ giới. Vũ Nương vốn là người con gái có tư dung tốt đẹp, tâm tính thùy mị, nết na. Khi lấy chồng, nàng luôn giữ giàng mực thước, ko để vợ chồng phải thất hòa dù Trương Sinh vốn có tính hay ghen tuông. Khi chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy tiễn chồng. Lời của nàng thật xúc động, nói về niềm mến thương, mong nhớ của mình đối với người chồng sẽ đi xa, rồi bộc bạch nỗi lo âu trước những gian khó nguy khốn nhưng mà người chồng sẽ trải qua, niềm mơ ước được đoàn viên … làm mọi người trong tiệc đều ứa 2 hàng lệ.

Chồng đi đánh giặc ngoài biên cửa ải, nàng 1 lòng son sắt, chung tình, “xa cách 3 5, giữ giàng 1 tiết”, mong chờ chồng về trong độc thân mỏi mòn “mỗi lúc thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể, chân mây chẳng thể nào ngăn được”. Hơn nữa, nàng là 1 người con dâu hiếu kính, tận tụy chăm nom lúc mẹ chồng còn sống, mai táng mẹ chồng lúc mẹ tạ thế (tính liệu như đối với mẹ đẻ mình).

Rồi đằng đẵng thời kì trôi qua, chồng ra lính trở về, cùng là khi nàng bị nghi oan. Vũ Nương đã phân bua để chồng thông suốt tấm lòng mình: “Thiếp vốn con kẻ khó … mong chàng đừng 1 mực nghi oan cho thiếp”. Nàng đã đề cập thân phận mình, nghĩa tình vợ chồng và khẳng định lòng chung thuỷ, hết dạ tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ bị đổ vỡ. Dù họ hàng, thôn ấp có bênh vực và biện bạch, Trương Sinh vẫn ko tin.

Cực chẳng đã Vũ Nương thống thiết: “Thiếp sỡ dĩ nương tựa vào chàng … đâu có thể lên núi vọng phu kia nữa!”. Đấy là hạnh phúc gia đình, niềm khát khao của cả đời nàng giờ đây đổ vỡ. Tình yêu ko còn, cả nỗi âu sầu chờ chồng giờ đây hoá đá….

Tuyệt vọng vì phải gành chịu nỗi oan khúc tày đình ko phương thổ lộ, cứu chữa nàng đành mượn cái chết để chứng tỏ đức hạnh trong trắng của mình. lời khấn nguyện với thần linh cực kỳ thảm thiết: “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh trắng gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Nga Mĩ.

Nhược chấp thuận chim, dạ cá, lừa dối chồng con, được xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ …” lời khấn nguyện đã khiến cho người đọc xót xa – con người rơi hoàn cảnh tuyệt vọng, chẳng thể tiếp diễn sống để tự tẩy oan tình nhưng mà phải tìm tới cái chết để thần linh chứng dám.

Sau 1 5 ở thủy cung, lúc nghe kể chuyện nhà, nàng đã ứa nước mắt khóc, nghĩ tới câu “ngựa Hồ gầm giá Bắc, chim Việt đậu cành Nam” rồi hiện về trên dòng nước cho thỏa lòng nhớ chồng, con. Qua những tình cảnh không giống nhau của vũ Nương, với những lời tự thoại của nàng, truyện đã khẳng định những nét đẹp truyền thống của người nữ giới Việt Nam – 1 người nữ giới đẹp người, lại nết na, hiền thục, đảm đang, tháo vát, hết mực hiếu kính với mẹ chồng, giữ vẹn lòng chung thuỷ sắt son với chồng, hết dạ vun vén hạnh phúc gia đình, …. đúng ra phải được hạnh phúc toàn vẹn thế nhưng mà phải chết 1 cách oan uổng, đớn đau.

Cái chết của Vũ Nương có nhiều nguyên cớ sâu xa, bắt nguồn từ hiện thực nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến của xã hội cũ, với cơ chế “nam quyền”, coi rẻ thân phận của người nữ giới, rồi tính đa nghi, ghen tuông tuông của chồng, thói cường bạo, gia trưởng của chồng đã làm khổ cực bao cuộc đời những người nữ giới.

Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần ko đồng đẳng (thiếp vốn con nhà khó, được nương tựa nhà giàu). Xã hội phong kiến lại coi trọng “nam quyền”, hơn nữa Trương Sinh lại có tính đa nghi, đối với vợ thì phòng đề phòng quá mức. Những cụ thể này sẵn sàng cho những hành động độc đoán của Trương Sinh sau này.

Khi đánh giặc trở về, Trương Sinh cũng mang 1 tâm cảnh nặng nề: mẹ tạ thế, con vừa học nói, lòng buồn phiền. Trong tình cảnh như thế, lời của Nhỏ Đản dễ khích động tính hay ghen tuông của Trương Sinh: “trước đây, thường có 1 người con trai đêm nào cũng tới…”

Điều đáng trách là thái độ và hành động độc đoán của Trương Sinh lúc đấy. Không đủ tĩnh tâm để mày mò vấn đề, chàng bỏ ngoài tai những lời phân bua của vợ, những lời bênh vực của họ hàng, thôn ấp, ko chịu nói ra duyên do ghen tuông hờn. Cuối cùng, Sinh lại nhiếc mắng nàng và đánh đuổi nàng đi. Thái độ và hành động của Trương Sinh vô tưởng tượng dẫn tới cái chết oan trái của Vũ Nương.

Hành động gieo mình xuống sông Hoàng Giang của Vũ Nương phản ảnh 1 thực trạng về thân phận người nữ giới trong xã hội phong kiến. Họ bị buộc chặt trong phạm vi khe khắt của lễ giáo, bị đối xử bất công, bị áp bức và chịu nhiều khổ cực, xấu số. Đấy cũng chính là trị giá cáo giác hiện thực của tác phẩm.

Đằng sau nỗi oan của người thiếu phụ Nam Xương, còn bao lăm oan tình xấu số nhưng mà người nữ giới ngày xưa phải gánh chịu: Nàng Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, người cung nhân trong “cung ân oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, người nữ giới lỡ duyên tình trong thơ Hồ Xuân Hương,…

Phcửa ải nhận thấy rõ rằng với truyện ngắn trước hết viết bằng chữ Hán, Nguyễn Dữ đã có những mặt thành công trong nghệ thuật xây dựng truyện, xây dựng những đoạn hội thoại. Cách kể chuyện quyến rũ, xây dựng cốt truyện, thắt nút và gỡ nút thật bất thần, đầy kịch tính, càng khiến cho nỗi oan tình của đối tượng xuất hiện với tất cả nét tàn khốc.

“Thắt nút” truyện bằng nhân tố bất thần. 1 câu nói thơ ngây nghe như thật của thơ ấu nhưng mà gây bão tố dây chuyền trong cuộc đời. Bão tố nghi kị trong 1 đầu óc nam quyền độc đoán, thiếu trí não; bão tố bất hoà dữ dội phá tan hạnh phúc của 1 gia đình ấm êm. Bão tố oan khiến phá nát cuộc đời của 1 người con gái trắng trong, phải chấm dứt bi thương trên 1 dòng sông.

“Gỡ nút” cũng bất thần bằng 1 câu nói thơ ấu non dại (lúc chỉ cái bóng của chàng Trương trên vách: “cha Đản lại tới kia kìa”) thì bao lăm oan gây bi kịch trong khoảnh khắc bỗng được minh bạch. Truyện có những đoạn hội thoại và những lời tâm tư của đối tượng được bố trí đúng chỗ, khiến cho câu chuyện phát triển thành sinh động, góp phần khắc họa diễn biến tâm lí và tính cách đối tượng; lời nói của bà mẹ Trương Sinh nhân đức, trải đời; lời lẽ của Vũ Nương bao giờ cũng chân tình, dịu dàng, mềm dẻo, hợp lí, có tình – lời của người nữ giới hiền thục, đoan trinh; lời của Nhỏ Đản hồn nhiên, thơ ngây, thiệt thà.

Chuyện đáng lẽ có thể chấm dứt ở đoạn “gỡ nút” truyện, chàng Trương Sinh giác ngộ, thấu hiểu nỗi oan của Vũ Nương mà Nguyễn Dữ đã thêm phần Vũ Nương trở về trần giới, gặp chồng trong thoáng chốc. So với truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, Nguyễn Dữ đã tái hiện truyền kì từ cổ tích để nâng truyện lên những trị giá tư tưởng và thẩm mĩ mới.

Điều đấy, làm ngày càng tăng sức quyến rũ của truyện và hoàn chỉnh tính cách đối tượng Vũ Nương, ước mong của dân chúng là “ở hiền gặp lành”, người tốt sẽ được bồi thường. Truyện chấm dứt có hậu. Trong truyện, những nhân tố truyền kì tập hợp ở phần sau của truyện như con rùa mai xanh được Phan Lang cứu, Vũ Nương được ở lại Thủy Cung, rồi hiện về với kiệu hoa đặc sắc trên sông… đấy là những cốt truyện huyền ảo, ko có thực mà đã tạo ra 1 toàn cầu nghệ thuật lung linh ảo huyền.

Căn số và cuộc đời thực thụ vẫn là thực lâu nay. Nhân tố hoang đường truyền kì chẳng thể cứu được cuộc đời Vũ Nương với số mệnh bi thương của nàng. Vũ Nương muốn sống lại nhưng mà ko được sống, muốn trở về với chồng con và quê hương nhưng mà chẳng thể trở về được.

Truyện “Người con gái Nam Xương” có trị giá hiện thực cáo giác và ý nghĩa nhân đạo thâm thúy. Nghĩ về Vũ Nương và biết bao thân phận người nữ giới khác trong xã hội phong kiến được phản ảnh trong các tác phẩm văn chương cổ, chúng ta càng thấy rõ trị giá cuộc sống của những người nữ giới Việt Nam trong 1 xã hội tốt đẹp bữa nay. Họ đang vươn lên làm chủ cuộc đời, sống đồng đẳng, hạnh phúc với chồng con và được đề cao phẩm chất trong xã hội của thời đại mới.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 3

Nguyễn Dữ, 1 học sinh giỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thành tài, đỗ đạt, ông ra làm quan. 1 5 sau, vì chán cảnh triều đình thối nát, ông đã lấy cớ phải nuôi mẹ già nhưng mà xin từ quan. Trong những ngày sống “cảnh điền viên vui tuế nguyệt”, ông viết “Truyền kỳ mạn lục”, 1 tác phẩm văn xuôi trước hết của văn chương cổ Việt Nam gồm những truyện có những cụ thể li kì. Phần mập truyền tụng phẩm giá cao đẹp của người nữ giới Việt Nam phải sống trong khuôn mẫu “tam tòng, tứ đức” của đạo đức phong kiến, nhưng mà “Chuyện người con gái Nam Xương” là 1.

Truyện kể lại Vũ Thị Thiết vâng lời bác mẹ làm vợ Trương Sinh, 1 người kém học, quốc gia gặp cảnh binh lửa nên Trương Sinh phải ra trận. 1 tuần sau, Vũ Nương sinh con đầu lòng. 1 mình chị chăm lo mẹ chồng, lo tang ma lúc mẹ chồng chết, nuôi dạy con và lo công tác đồng áng.

Giặc tan, Trương Sinh về, nghe lời con nhưng mà nghi ngại lòng chung thuỷ của vợ. Vũ Nương ko giải oan được nên đành trẫm mình xuống sông. Nàng được hoàng hậu ở động Rùa tương trợ. Sau đấy, nàng gặp Phan Lang, người láng giềng đã cứu hoàng hậu ở động Rùa. Phan Lang về kể lại cho Trương Sinh nghe. Trương Sinh cải hối lập đàn cầu xin theo lời của nàng. Nàng hiện lên gặp chồng con mà lại trở lại sống ở động Rùa vì 2 người hầu 2 toàn cầu dị biệt.

Cũng như truyện cổ, những kho truyện của Trung Hoa có tác động nhiều tới nhà Nho đương thời (thế kỉ XVI). “Thiếu phụ Nam Xương” cũng có 2 tuyến đối tượng, có những tình cảnh tiêu biểu, có người giàu kẻ nghèo ở trong xã hội đang thời binh đao, nhiễu nhương. Nhưng dù sống trong tình cảnh nào thì người tốt vẫn chẳng hề chỉnh sửa thực chất của mình, nhưng mà Vũ Thị Thiết là đối tượng điển hình.

Vũ Nương nhà nghèo mà “tư dung tốt đẹp”, “thuỳ mị, nết na”. Thời phong kiến, con gái “tại gia tòng phụ” để có “công, dung, ngôn, hạnh”, Vũ Nương được như thế chứng tỏ nàng có nhan sắc (dung) trời cho mà “thuỳ mị, nết na” thì ắt là do sự giáo dục của gia đình.

Nàng nghèo mà ko mất nền nếp gia phong. Trái lại “Trương Sinh tuy con nhà hào phú mà ko có học”. 1 loạt các đối tượng tốt xuất thân từ những tình cảnh sống không giống nhau như mẹ chồng, người hàng xóm Phan Lang, hoàng hậu động Rùa Linh Phi … đủ chứng tỏ giàu nghèo tuy có tác động tới vẻ ngoài sống mà khó chỉnh sửa được thực chất của họ.

“Nam Xương tử nữ truyện” ko chỉ giới thiệu những đối tượng tốt, xấu đấy nhưng mà còn phê chuẩn họ Nguyễn Dữ muốn đề cao sự chung thuỷ và lòng bao dong luôn được đối tượng này trình bày trong từng lời đề cập từng sự việc. Vâng lời bác mẹ chịu lấy Trương Sinh làm chồng, nàng đã sớm muộn như 1 làm người con hiếu hạnh. Không chỉ hiếu hạnh với bác mẹ ruột. Vũ Nương còn hiếu hạnh với mẹ chồng.

Nàng 1 mình đã toan lo đỡ đần mẹ chồng khi ốm đau, rồi mẹ chồng chết lại lo mai táng. Người nữ giới có con mọn như nàng nhưng mà vẫn kiêm toàn những công tác vất vả đấy thay chồng nhưng mà ko tiếng kêu than thì quả thực là hiếm có. Mẹ chết, 1 mình ở vậy nuôi con chờ ngày chồng trở về thì bảo nàng ko chung thuỷ sao cho được?! Chồng với vợ như bóng với hình, nàng đã mượn chiếc bóng của mình để xoa dịu con, muốn đứa con nhỏ tuổi luôn nghĩ rằng mình cũng là đứa trẻ có cha.

Khi bị Trương Sinh nghi ngại, nàng đã bao lần hỏi rõ dù bị dằn vặt, chửi mắng, đánh đập. Nàng đã từng hàn huyên với chồng: “Thiếp vốn con nhà khó, được nương tựa nhà giàu … Đâu có hư thân như lời chàng nói. Khi nhận thấy chẳng thể nào xoá tan được mối nghi ngại điếm nhục, hạ thấp phẩm chất 1 cách oan khúc, nàng đã quyết định tự trẫm mình, mượn dòng nước trong để rửa sạch những oan khiên.

Xét cho cùng, cương quyết bảo toàn danh dự của con người cũng là lòng chung thuỷ sắt son! Lại nữa lúc gặp được Phan Lang, người láng giềng tốt bụng ở động Rùa, Vũ Nương vẫn ko quên chồng lúc nàng hàn huyên cùng Phan Lang và nhờ Phan Lang về nói lại với Trương Sinh đề nghị của nàng, điều đấy vừa trình bày sự chung thuỷ, vừa tỏ ra bao dong đối với Trương Sinh.

Cả tới Phan Lang, hoàng hậu Linh Phi cũng đều là những người có lòng bao dong, chung thuỷ. Chỉ riêng có Trương Sinh là có lòng ích kỉ, hẹp hòi, tối dạ vì thuở bé ko lo chuyện sách đèn. Chỉ cần nghĩ tới công huân của vợ khi chàng đang ở ngoài chiến trận, chỉ cần sống gần gụi với hàng xóm, chỉ cần có lòng tin vào lòng chung thuỷ của vợ thì nghi vấn khởi hành từ lời nói của con trẻ “Trước đây, thường có 1 người con trai, đêm nào cũng…” đã được thổ lộ để rồi vợ chồng lại sống trong cảnh ấm cúng, thương mến.

1 nội dung khác thật rõ ràng trong chuyện là oán rành mạch. Vũ Nương là người nữ giới, có nhẽ mang đặc tính đấy trong cuộc sống. Vì lẽ đấy, lúc nàng ko còn đủ nhẫn nại kì vọng chồng bộc lộ đấy thì nàng tự bộc lộ. Cái chết của nàng hàm chứa ý nghĩa đấy, khiến cho Trương Sinh phải nhìn thấy ân nghĩa nàng đã đem lại cho chàng và nỗi oan khiên nhưng mà nàng phải chịu.

Trường hợp giữa hoàng hậu Linh Phi và Phan Lang cũng vậy. Hoàng hậu đã được Phan Lang cứu nên lúc Phan Lang gặp nạn lúc lên thuyền ra biển tránh sự truy đuổi của quân giặc thì đã được Linh Phi hết dạ cứu chữa, lại thếp tiệc đãi, tặng thêm ngà ngọc … trước lúc tiễn chân chàng trở về làng quê.

Như thế, ngay truyện ngắn thuộc văn viết, dù là chữ Hán trong buổi nguyên sơ cũng đang mang tình cảnh tiêu biểu, con người tiêu biểu của đời thường vào tác phẩm; cũng có đầy đủ người giàu, kẻ nghèo, hỉ – nộ – ái – ố với chấm dứt có hậu ở nội dung là ở hiền gặp lành.

Truyện có rất nhiều cụ thể mà được kết hợp bởi quan hệ nhân quả nên có kết cấu khá chặt chẽ. Khởi đầu truyện, Nguyễn Dữ đã khôn khéo giới thiệu Vũ Thị Thiết và Trương Sinh, 2 đối tượng chính có tình cảnh, tính cách trái ngược nhau để làm cơ sở cho việc khai thác đối tượng sau này. Tâm tính, tình cảnh sống trái ngược nhau mà lại nên vợ nên chồng chỉ vì vâng lời bác mẹ. Quan hệ nhân quả trình bày từ đầu.

Từ đấy, quan hệ nhân quả của 2 đối tượng diễn ra 1 cách thiên nhiên, cân đối. Vì nước có loạn loạn lạc nên chàng mới ra trận. Vì chàng vào nơi gió cát nên nàng phải nặng gánh nước nhà nhà chồng. Vì con thơ đề cập cha nên mẹ đã mượn cái bóng của mình thay thế; cho con đỡ hổ hang với bè bạn. Vì nghe lời trẻ nhỏ nên Trương Sinh mới nghi ngại vợ … Chuỗi nguyên cớ và kết quả đầy kịch tính đấy đã dần tới cực điểm là Vũ Nương quyết định trầm mình. Nếu chuyện chấm dứt ở đây thì quả là ai oán, ko có hậu.

Có nhẽ thành ra nhưng mà những cụ thể thần kỳ được thêm vào. Đó là Phan Lang nằm mộng thấy con rùa xanh kêu cứu. Rồi Phan Lang nhớ lại và thả rùa để rồi sau đấy là được rùa cứu mạng trả ân và gặp Vũ Nương ở động Rùa. Những cụ thể thần kỳ đấy ở vào thời buổi nhưng mà vua quan, thần dân đều tin vào sự hiện hữu của Trời, Thần, Quỷ, Ma… giống như trong những truyện cổ thì cũng là điều ko mấy kinh ngạc.

Có những cụ thể đấy, Vũ Nương mới gặp được chồng để giải mối oan khiên, điếm nhục nhất của đời làm vợ. Và dù có mặt trên thị trường sau ”Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn 3 thế kỷ, “Nam Xương tử nữ truyện” vẫn còn những câu văn biền ngẫu cổ kính.

Dù có những giảm thiểu đấy mà truyện Người con gái Nam Xương chẳng những có trị giá đạo lý, lịch sử (phản ảnh sự rối ren của xã hội phong kiến) nhưng mà cũng có trị giá nghệ thuật xây dựng truyện.

Cho đến nay, “Người con gái Nam Xương” vẫn còn hấp dẫn người đọc. Giữa xã hội nam nữ bình quyền thì nó là cột mốc để so sánh vai trò của người nữ giới trong văn chương xưa và nay. Giữa xã hội suy đồi về đạo đức, nhất là với đàn bà thì nội dung truyện là 1 bài học đạo đức truyền thống tốt.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 4

Nguyễn Dữ là người học rộng tài cao, ông sống chỉ cần khoảng nhà Lê khởi đầu khủng khoảng, các tập đoàn phong kiến tranh quyền, đoạt vị với nhau. Do vậy ông ra làm quan ko lâu sau đấy lui về ở ẩn. Thời gian lui về ở ẩn, ông sưu tầm các truyện dân gian để sáng tác lại thành tập “Truyền kì mạn lục”. Trong số 2 mươi truyện của truyền kì mạn lục, nổi trội nhất là tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương. Tác phẩm vừa giàu trị giá hiện thực vừa trình bày trị giá nhân đạo thâm thúy của tác giả.

Tác phẩm quay quanh số mệnh và cuộc đời đối tượng Vũ Nương. Vũ Nương là người con gái xinh xắn: “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”, nàng mang vẻ đẹp toàn diện cả về vẻ ngoài và tâm hồn. Nàng là đại diện điển hình cho vẻ đẹp của người nữ giới trong xã hội phong kiến. Chi tiết Trương Sinh “mến về dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về” càng nhấn mạnh, tô đậm hơn nữa vẻ đẹp dung nhan và phẩm hạnh của nàng.

Vũ Nương là người mang trong mình nhiều phẩm giá cao quý. Trước hết, nàng là 1 người vợ, người mẹ đảm đang, người con dâu hiếu hạnh, tận tụy với mẹ chồng. Khi chồng đi lính, thân là nữ giới mà nàng đã 1 mình đứng ra phụ trách công tác gia đình. Mẹ chồng già yếu, nhớ con nhưng mà đổ bệnh nàng vô cùng chăm nom, “thuốc men lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khéo léo khuyên nhủ” mong cho mẹ mau mau khỏi bệnh.

Trong xã hội phong kiến xưa, mối quan hệ giữa mẹ chồng nàng dâu thường chỉ mang thuộc tính buộc ràng, cha ông ta vẫn thường có câu: “Trời mưa ướt lá đài bi/ Con mẹ, mẹ xót, xót gì con đâu” hay “Thật thà cũng thể lái trâu/ Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng”,… Nhưng những lời bà mẹ trăng trối rốt cuộc trước lúc mất đã khẳng định lòng hiếu hạnh, tình cảm chân tình, sâu nặng của Vũ Nương với mẹ chồng.

Những lời lạy tạ của bà mẹ đã cho thấy tấm lòng mến thương rất mực của nàng với bà bởi thế bà cũng coi Vũ Nương như con gái của mình vậy. Mấy người nào trong xã hội đấy lại được lòng mẹ chồng yêu quý tới tương tự. Khi bà mất, nàng lo tang ma tỷ mỉ như cho bác mẹ đẻ của mình. Qua những hành động đấy ta thấy Vũ Nương là nàng dâu vô cùng nết na, hiếu hạnh, tiếng thơm của nàng còn để lại mãi muôn thuở.

Không chỉ vậy nàng còn là người vợ nết na, chung tình, giàu lòng vị tha. Khi mới cưới, Vũ Nương thông suốt chồng mình có tinh đa nghi, hay ghen tuông và hay phòng đề phòng quá mức, bởi thế nàng luôn giữ giàng mực thước, để 2 vợ chồng không hề chịu cảnh bất hòa. Chính vậy, trong suốt những 5 tháng chung sống bên nhau, trước lúc Trương Sinh ra trận gia đình nàng luôn được sống trong cảnh ấm cúng, hạnh phúc.

Ngày Trương Sinh ra trận, tiễn chồng những lời căn dặn không hề công danh phú quý nhưng mà là “chỉ xin ngày về mang theo được 2 chữ bình an, thế là đủ rồi”. Ba 5 xa chồng, 1 mình sinh con, nàng nhớ chồng khôn nguôi, nàng bỏ cả trang điểm, dành tất cả thời kì chăm nom gia đình, làm tròn trách nhiệm của người vợ, người mẹ. Ngay cả lúc Trương Sinh trở về nghi ngại nàng thất tiết nàng cũng chỉ biết khóc và thanh minh bằng những lời lẽ thiết tha, dịu dàng mong chồng hiểu cho tấm lòng của mình.

Khi bị chồng nghi oan, nhiếc mắng, đánh đuổi đi, ko cho thời cơ thổ lộ, giảng giải nàng chỉ âu sầu, nỗ lực thanh minh nhưng mà chẳng hề ân oán hận với người chồng hẹp hòi, ích kỉ. Được Linh Phi cứu, sống cuộc đời thảnh thơi, bất diệt mà lòng nàng khi nào cũng hướng về quê hương, về gia đình bé bỏng của mình. Việc nàng gặp lại Phan Lang dưới thủy cung và gửi chiếc thoa về cho chồng cho thấy nàng đầy vị tha, chuẩn bị tha thứ cho chồng.

Khoảng khắc ẩn hiện, mờ ảo trên bến sông Hoàng Giang, Vũ Nương ko 1 lời ân oán hận, trách móc: “Đa tạ tình chàng. Thiếp không thể trở về dương gian được nữa”. Qua đây ta có thể thấy, Vũ Nương ko chỉ là người nữ giới tiết hạnh, người con dâu tốt nết nhưng mà còn là 1 người nữ giới bao dong, giàu lòng vị tha với người chồng đã đẩy tới bước đường cùng. Vũ Nương là hiện thân cho vẻ đẹp người nữ giới Việt Nam thảo hiền, tiết hạnh.

Dù rằng mang trong mình đầy đủ những phẩm giá tốt đẹp để thừa hưởng cuộc sống êm ả, hạnh phúc mà cuộc đời Vũ Nương lại đầy oan trái, oái oăm. Khởi đầu ngay từ cuộc hôn nhân của nàng, ko có sự đăng đối giữa 2 gia đình, về phẩm giá giữa 2 con người: nàng tụ hội đầy đủ vẻ đẹp phẩm giá: công-dung-ngôn-hạnh, mà Trương Sinh lại là kẻ ít học, đa nghi, hay ghen tuông.

Lấy chồng ko bao lâu, Trương Sinh phải đi lính, nàng sống trong nỗi độc thân, nặng nhọc: phụ trách việc gia đình, nuôi dạy con thơ và chăm nom mẹ già; nỗi nhớ chồng, lo âu cho chồng nơi biên cửa ải thiết tha hôm sớm. Tới lúc chồng về lại phải gánh nỗi oan lạ, oan thất tiết nhưng mà ko có dịp mày mò nguyên cớ. Cuối cùng nàng đã phải lấy cái chết để chứng minh tấm lòng chung tình, trong lành của mình.

Đây là phản ứng dữ dội và quyết liệt của Vũ Nương để bảo vệ phẩm chất cũng như cho thấy nỗi xấu số tột đỉnh của nàng. Dù sống bất diệt dưới thủy cung mà nàng chẳng hề hạnh phúc, bởi hạnh phúc thực thụ của con người là ở nhân gian, được chung sống, thừa hưởng ko khí ấm cúng của gia đình. Nhưng điều đấy đối với nàng mãi mãi chẳng thể làm được nữa.

Thân ở thủy cung, lòng lại 1 mực hướng về thế gian, nơi có chồng, có con làm cho nỗi xấu số của nàng càng được đậm tô hơn nữa. Vũ Nương là điển hình cho phận bạc của biết bao nữ giới trong xã hội phong kiến bất công, hung tàn, nặng nề lễ giáo phong kiến.

Ngoài đối tượng Vũ Nương, ta cũng chẳng thể quên 1 Trương Sinh hàm hồ đã đẩy người đầu gối tay ấp với mình tới chỗ chết. Trương Sinh là con nhà trọc phú, ít học, tâm tính cục mịch, hay ghen tuông. Cũng bởi do ít học nên lúc chiến tranh xảy ra anh ta là người trước hết trong danh sách đi lính. Cũng bởi tính đa nghi, hay ghen tuông đã khiến cho Trương Sinh mờ mắt, chỉ nghe lời từ đứa con thơ ngây ko chịu nghe lời phân bua của vợ.

Chính Trương Sinh là người đã trực tiếp đẩy Vũ Nương phải tìm tới cái chết. Khi hiểu ra mọi chuyện thì đã quá muộn mằn. Trương Sinh phải ôm nỗi hối hận, nỗi đau trong suốt phần đời còn lại. Trương Sinh chính là đại diện điển hình cho những người con trai vũ phu, những lễ giáo phong kiến khắc nghiệt đã đẩy người nữ giới rơi vào thảm kịch.

Tác phẩm đã xây dựng được cảnh huống truyện lạ mắt, cụ thể mang tính thắt nút, đẩy câu chuyện lên cao trào, đình điểm: cái bóng là then chốt của câu chuyện, là cụ thể thắt nút cũng như cởi nút cho diễn biến tác phẩm. Nghệ thuật kể chuyện rực rỡ: dẫn dắt cảnh huống có lí. Liên kết hài hòa giữa hiện thực và huyền ảo. Nghệ thuật xây dựng đối tượng cũng là 1 điểm thu hút, đối tượng được mô tả nội tâm khá phong phú. Những nhân tố đấy góp phần hình thành sự thành công cho tác phẩm.

Chuyện người con gái Nam Xương thấm đẫm trị giá hiện thực và nhân đạo. Tác phẩm là ngôn ngữ thương cảm cho số mệnh những người nữ giới trong xã hội phong kiến. Cùng lúc cũng lên án cáo giác xã hội nam quyền và chiến tranh phi chính nghĩa đã tước đoạt hạnh phúc và đẩy con người tới bước đường cùng.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 5

Đớn đau thay phận nữ giới,

Lời rằng bạc phận cũng là lời chung.

Căn số người nữ giới trong xã hội phong kiến xưa kia đúng như đánh giá của Nguyễn Du. Người nữ giới dù được sinh ra trong gia đình thuộc thành phần giai cấp nào, dù tốt đẹp nết na cũng đều cùng chung số mệnh “bạc phận” hệt nhau. Căn số hẩm hiu đáng thương đấy đã được các nhà văn phản ảnh lại trong tác phẩm của mình.

Có nhẽ điển hình nhất là Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, 1 tác phẩm lừng danh của thế kỉ XVI (Trong tập Truyền kì mạn lục). Đây là 1 tác phẩm có trị giá thâm thúy về nhiều mặt và đã gây được xúc cảm trong lòng người đọc ở mọi lứa tuổi.

Chuyện người con gái Nam Xương là 1 tác phẩm có trị giá hiện thực thâm thúy. Xã hội thời đấy là 1 xã hội binh đao, chiến tranh xảy ra liên hồi đã khiến cho cuộc sống của người dân thật điêu linh khốn khổ. Thành ra nhưng mà họ rất đáng ghét chiến tranh. Qua buổi tống biệt Trương Sinh ra trận, với những lời căn dặn của bà mẹ, lời hàn huyên của Vũ Nương với chồng, ta cũng thấy được thái kinh độ sợ chiến tranh của người dân khi bấy giờ.

Chính chiến tranh đã khiến cho vợ phải xa chồng, cha phải xa con… và nó còn là nguyên cớ gây ra bao nỗi xấu số cho người 1 vợ nữa. Trương Sinh đi lính, Vũ Thị Thiết ở nhà 1 mực chung tình với chồng, thay chồng phụ trách hết mọi công tác gia đình: sinh con, chăm nom mẹ chồng, toan lo mọi công tác sớm muộn. Mẹ chồng bệnh lo thuốc men, mẹ mất lo hậu sự, cúng tế tử tế.

Vậy nhưng mà lúc chồng trở về, nàng chưa được vui đoàn tụ lại gặp tai họa bất thần. Bởi anh chồng thât học lại có tính đa nghi, ghen tuông tuông mù quáng chỉ nghe theo lời đứa trẻ thơ ngây ko biết xét suy đã vội nghi oan cho vợ. Chỉ vì “cái bóng” vô hình nhưng mà Vũ Nương bị mắc oan. Nỗi oan địa chấn trời lại chẳng thể thổ lộ được cùng người nào. Bởi cái lễ giáo phong kiến, cái thần thế nam quyền ko cho phép người nữ giới được lên tiếng giải oan. Họ ko có 1 quyền bính gì cả, ko được người nào bênh vực hay che chở. Cuối cùng nàng phải mang mối oan tình xuống dòng nước bạc.

Căn số của người phụ nừ trong xã hội phong kiến là như thế đấy! Sợi dây lễ giáo trói buộc người nữ giới, họ phải mang số mệnh “bạc phận” tới hết cuộc đời. Thậm chí lúc được tẩy oan, dẫu Vũ Nương rất nhớ thương chồng con mà cũng chẳng thể nào quay về cõi tục được vì nơi đấy luôn gieo tai họa cho người nữ giới. Đây là 1 cụ thể mang trị giá cáo giác cao.

Nó khẳng định được thực chất xấu xa của xã hội phong kiến, 1 nhà đá giam hãm cuộc đời của người nữ giới suốt bao thế kỉ. Cả tác phẩm là 1 bức tranh hiện thực sinh động phản ảnh được thân phận đáng thương của người nữ giới trong xã hội xưa kia.

Đằng sau nỗi khổ của Vũ Nương, ta còn thấy tấm lòng nhân đạo đáng quý của nhà văn. Xuất phát từ tấm lòng mến thương trân trọng người nữ giới, Nguyễn Dữ tập hợp truyền tụng phẩm giá tốt đẹp của người con gái Nam Xương: đảm đang, hiếu nghĩa, chung tình. Khi chồng đi lính, nàng 1 mình làm hết cả vai trò của chồng lẫn vợ ko 1 chút than thở: nuôi dạy con thơ, chăm nom mẹ già.

Nàng luôn giữ trọn đạo hiếu đối với bác mẹ, phụng dưỡng mẹ chồng như mẹ ruột. Đối với chồng, sớm muộn nàng vẫn giữ trọn tình nghĩa. Biết chồng vốn tính đa nghi, “nàng cũng giữ giàng mực thước, ko từng để khi nào vợ chồng phải tới bất hòa”. Khi bị chồng nghi oan, chẳng thể thổ lộ được, nàng đã lấy cái chết để chứng nhận tình nghĩa của mình.

Lời nguyện thề của Vũ Nương trước lúc chết cũng chứng tỏ được tấm lòng trắng trong, chung tình của nàng. “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh trắng gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mỵ Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mỹ. Nhược chấp thuận chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”. Vũ Nương tin ở tấm lòng chung tình trắng trong của mình nên sau lúc chết đã được như lời nguyền.

Tiết nghĩa của người con gái Nam Xương như thế! Câu chuyện càng thương tâm, tấm lòng nàng lại càng minh bạch. Vũ Thị Thiết là hiện thân của tâm hồn cao đẹp. Trong lòng nàng như chẳng hề gợn 1 mảy may vẩn đục nào ngoài lòng mến thương chồng, thương con. Tinh thần nhân đạo của tác phẩm còn biểu lộ rõ rệt trong việc phản ảnh nỗi oan của Vũ Nương. Trong lúc cơ chế phong kiến khinh thường quyền sống của người nữ giới, chẳng hề ân cần tới nỗi khổ của họ, ước muốn của họ, thì truyện ngắn này đã nói đến đến nỗi khổ đấy, xót thương tới nỗi oan đấy.

Kế bên đấy, Nguyễn Dữ còn đề cao 1 khát vọng của họ: được tôn trọng. Sau lúc vợ chết ko chỉ chàng Trương hiểu ra nỗi oan của nàng và lập đàn tẩy oan, nhưng mà tấm lòng trong trắng chung tình đấy, nỗi khổ đấy còn cảm động tới thần linh. Hình ảnh “Vũ Nương ngồi kiệu hoa, theo sau đấy có hơn 5 mươi chiếc xe, cờ tán võng lọng đặc sắc” thật là đẹp tươi. Đấy là phần thưởng, là niềm xoa dịu cho nàng. Cùng lúc nó cũng trình bày được ước mong của tác giả, của dân chúng ta ngày xưa.

Kế bên đấy, truyện còn có nhiều thành công về mặt nghệ thuật.

Đặc trưng là nghệ thuật dựng truyện giàu kịch tính. Những chỗ thắt nút, mở nút, bất thần nhưng mà vẫn có lí. Người đọc bất thần vì những câu nói thơ ngây của đứa trẻ lần đầu gặp cha, không thể tinh được và thương tâm trước cái chết của người vợ, càng sững sờ lúc đọc tới cụ thể: đứa con chỉ bóng cha in trên vách nhưng mà nói: “Cha Đản lại tới kia kìa!”. Thì ra nguyên cớ nỗi âu sầu, nỗi oan ức của 1 con người, sự tan tành của 1 gia đình chỉ vì 1 “cái bóng” qua lời nói của thơ ấu. Chính cụ thể đấy làm nỗi oan nổi rõ lên với tất cả cái bi thương của nó.

Các đối tượng trong truyện tuy chưa thật sự có phong cách rõ rệt mà cũng biểu thị được với 1 vài đặc điểm khá sắc sảo: đứa trẻ thì không lo nghĩ, người vợ thảo hiền chung tình cam chịu, người chồng vừa hot nảy hay ghen tuông lại vừa cả tin nhẹ dạ. Truyện lại liên kết chất hiện thực với những nhân tố hoang đường thần kì gây hứng thú cho người đọc.

Tuy nhiên do được viết bằng chữ Hán, với những cách diễn tả bóng bẩy và nhiều ít công thức, tiếng nói của truyện còn gây cho ta cảm giác thiếu thiên nhiên ta chưa biết được thực thụ lời nói của ông cha ta ngày đấy. Nhưng dẫu sao, đây cũng là 1 truyện ngắn trước hết của văn chương Việt Nam có những thành công sắc sảo.

Tóm lại, Chuyện người con gái Nam Xương là 1 câu chuyện tình đầy oan khúc. Qua truyện, ta hiểu được sự bất công vô lí của xã hội phong kiến đã đem lại nỗi âu sầu cho người nữ giới đẹp trong văn học Việt Nam thế kỉ XVI làm sáng ngời phẩm giá đáng quý của người nữ giới Việt Nam. Dẫu đã trải qua nhiều thế kỉ, mà thời kì vẫn ko làm giảm đi trị giá của tác phẩm văn chương rực rỡ này. Tác phẩm là 1 trong những viên đá trước hết đã góp phần xây dựng nên ngôi nhà mập văn xuôi Việt Nam.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 6

Theo mọi thứ theo thời kì sẽ bị bào mòn và băng hoại. Chỉ có độc nhất vô nhị nghệ thuật, mình nó không chấp nhận cái chết. Có những tác phẩm dù trải qua bao lăm thế kỉ, qua sự thử thách của dòng đời, nó vẫn còn nguyên nhựa sống của mình. “Chuyện người con gái Nam Xương” là 1 câu chuyện như thế.

“Chuyện người con gái Nam Xương” là 1 trong số 20 truyện trích trong “Truyền kì mạn lục”, áng văn được thiên hạ bình chọn là “thiên cổ kì bút”- cây bút thần kì truyền đến nghìn đời. Truyện được viết từ tình tiết cổ tích “Vợ chàng Trương”, mà với ngòi bút tài năng của mình, Nguyễn Dữ đã sáng hình thành “Chuyện người con gái Nam Xương” rất riêng, giàu trị giá và ý nghĩa. Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, tác phẩm đã trình bày trị giá hiện thực và cảm hứng nhân đạo thâm thúy.

Trước hết. “Chuyện người con gái Nam Xương” là bản án sắt đá cáo giác xã hội phong kiến nam quyền, bất công bấy giờ qua số mệnh thảm kịch của Vũ Nương cũng như sự độc đoán của đối tượng Trương Sinh. Ngay lúc khởi đầu, Vũ Nương đã phải chịu 1 tơ duyên éo le. Nàng- người con gái thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp lại phải lấy Trương Sinh- 1 kẻ thất học, rất đa nghi, với vợ thường phòng đề phòng quá sức. Cuộc tơ duyên đấy đã chứa đựng mầm mống của của tranh chấp.

Lấy chồng chưa được bao lâu, Vũ Nương lại phải sống trong cảnh kì vọng nặng nhọc. Vợ chồng phải chia lìa vì “động việc lửa binh”. Cảnh nàng tiễn chồng đi lính thật ái ngại, xót xa: nàng rót chén rượu đầy nhưng mà ứa 2 hàng lệ. Rồi lúc chồng đi lính, nàng phải sống vò võ 1 mình trông ngóng tin chồng. Nàng thay chồng toan lo phụ trách công tác gia đình: nuôi dạy con bé, chăm nom, phụng dưỡng mẹ già khi ốm đau, hậu sự tế lễ tỷ mỉ lúc mẹ chồng mất. Ái ngại thay cho nàng, sau lúc mẹ chồng mất, trong căn nhà trống trải độc thân, chỉ có người vợ trẻ và đứa con ấu thơ.

Hơn nữa, người nữ giới đấy còn phải chịu nỗi oan và cái chết thương tâm. Chỉ vì 1 lời nói của đứa con bé nhưng mà Trương Sinh đã đinh ninh vợ mình hư hỏng, 1 mực nhiếc mắng, đánh đuổi nàng đi. Hỏi nguyên do thì Trương Sinh giấu, nàng hết lời giải oan mà chồng ko nghe, bà con thôn ấp biện minh cho nàng cũng chẳng ích gì. Nàng bị chồng đẩy vào thảm kịch: “người vợ mất nết hư thân”, dồn đẩy nàng phải tìm tới cái chết để giải oan. Nhưng chỉ trong 1 thời kì ngắn sau, Trương Sinh nhìn thấy nỗi oan của vợ thì “việc đã rót qua rồi”. Người đọc chỉ biết ngùi ngùi thở dài xót thương cho người nữ giới bạc phận.

Vũ Nương còn phải chịu nỗi oan ngăn cách. Sống dưới thủy cung, cuộc sống đầy đủ, xứng đáng với nàng mà đấy không hề cuộc sống nàng mơ ước. Nàng vẫn khát khao cuộc sống gia đình, quê hương. Việc nàng trở về mà hông thể trở về nhân gian được nữa, âm dương xa cách, nàng ko còn được làm vợ, làm mẹ nữa.

Còn đối tượng Trương Sinh được xây dựng là con nhà hào phú mà thất học và rất đa nghi. Chính lòng ghen tuông tuông mù quáng, cách cư xử hàm hồ, Trương Sinh đã đẩy vợ mình tới cái chết oann nghiệt. Bi kịch của Vũ Nương điển hình cho thảm kịch của người nữ giới Việt Nam trong xã hội phong kiến: số mệnh bé nhỏ, ko có ngôn ngữ và cũng ko được quyền quyết định số mệnh cuộc đời mình.

Trương Sinh chính là thành phầm của xã hội phong kiến bất công với thói gia trưởng độc đoán, với tư tưởng trọng nam khinh nữ đã đẩy người nữ giới tới với thảm kịch. Qua đấy chính là lời cáo giác xã hội phong kiến bất công, hủ lậu với những thành kiến xã hội, với trận đấu tranh phi chính nghĩa đã làm tan tành bao gia đình, cuộc đời.

Nhưng đằng sau sự xót xa, căm uất trước cơ chế phong kiến lại là thái độ trân trọng, là tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Dữ dành cho con người. Tác giả trình bày sự trân trọng, ca ngợi cho vẻ đẹp của người nữ giới: Vũ Nương. Vũ Nương là người con gái đẹp người đẹp nết. Ngay phần đầu giới thiệu, tác giả đã dùng những từ ca ngợi để dành riêng cho nàng. Thành ra nhưng mà Trương Sinh mới xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về.

Nàng còn là người vợ chung tình. Trong cuộc sống gia đình, nàng luôn giữ giàng mực thước. Dù chồng có tính đa nghi mà gia đình chưa từng tới thất hòa. Trong buổi tiễn chồng đi lính, nàng chỉ mong chồng bình an trở về. Với nàng, mọi vinh hoa phú quý ko có nghĩa lí bằng hạnh phúc gia đình. Nàng còn thông cảm với những gieo neo hiềm nguy nhưng mà chồng phải trải qua nơi chiến trường, cùng lúc bộc bạch nỗi nhớ nhung của mình.

Khi chồng đi lính, nàng luôn hướng về chồng, nỗi buồn nhớ dài theo 5 tháng. Khi bị chồng nghi oan, nàng đã hết lời phân bua: dùng thân phận, tấm lòng. Nỗi đớn đau thất vọng lúc hạnh phúc gia đình đang nguy cơ đổ vỡ. Nàng đã tìm đủ mọi cách để cứu vãn hạnh phúc gia đình, để giải oan cho mình. Hành động nhảy xuống sông tự sát để tỏ rõ với đời người nữ giới đoan trang, giữ tiết, trinh trắng, gìn lòng.

Sống dưới thủy cung, nàng vẫn luôn hướng về gia đình, quê hương. Việc nàng trở về để được giải oan mà nàng ko trở về được nữa để giữ mãi lòng chung tình với Linh Phi- người đã nuôi nấng nàng. Hơn nữa, Vũ Nương còn là 1 người mẹ hiền, người con dâu hiếu hạnh.

Nàng đảm đang, toan lo mọi công tác gia đình lúc chồng đi vắng. Lời trăng trối của người mẹ chồng là sự ghi nhận cao nhất cho phẩm hạnh làm dâu, làm con của nàng: bà cảm ơn công huân của nàng với gia đình nhà chồng, bà cầu mong đứa con của mình sẽ được hạnh phúc: “xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

Có thể nói, Vũ Nương là người nữ giới lí tưởng, ở nàng hiện ra cả 3 con người: người vợ chung tình, người mẹ hiền, người con dâu hiếu hạnh. Tất cả đều xuất sắc, minh bạch tới mức hoàn hảo. Trân trọng, ca ngợi vẻ đẹp của người nữ giới, vốn ko được coi trọng trong xã hội chính là trị giá nhân bản của tác phẩm. Đặc trưng, tác giả còn thông minh so với cổ tích lúc để Vũ Nương có thể trở về để giải oan.

Nó như khúc vĩ thanh trong bản nhạc để ngân lên những ước mong nghìn đời của người dân cày, rằng cuộc đời này vẫn còn công lí, người tốt dù chịu oan khúc rồi cũng sẽ được trả lại sự trong lành, cái thiện rồi cũng sẽ thắng lợi. Cũng chính thành ra nhưng mà tác phẩm vợi đi phần nào sự bi thảm, đớn đau để đánh thức trong người đọc niềm tin, sáng sủa hướng về ngày mai.

Ngoài những trị giá nội dung thâm thúy, tác phẩm còn có những thành tích nghệ thuật rực rỡ. Tất cả mọi diễn biến tính cách, số mệnh đối tượng đều quay quanh cụ thể chiếc bóng. Nó ko hiện ra ngay từ đầu mà là nhân tố để câu chuyện lên tới cao trào và cũng nó để cởi nút cho câu chuyện.

Nhờ cách bố trí cảnh huống nhưng mà câu chuyện phát triển thành bất thần, bồn chồn, căng thẳng. Cộng với đấy là nghệ thuật khắc họa đối tượng tiêu biểu, đại diện cho những đặc điểm phân khúc và số mệnh con người trong xã hội. Giọng văn cùng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ, tuy có ước lệ những vẫn sinh động, chân thật và hài hòa.

Như vậy, “Chuyện người con gái Nam Xương” là ngôn ngữ lên án, cáo giác xã hội phong kiến bất công, phi lí. Cùng lúc lên ngôn ngữ cảm thương, ca ngợi với vẻ đẹp con người, niềm tin vào công bình và công lí xã hội. Tấm lòng đau đáu của Nguyễn Dữ nhìn vào thực tại và dành cho con người đã khởi nguồn cho ngôn ngữ nhân đạo của Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du, … sau này.

Từ 1 chiếc bóng oan trái, tác phẩm thấm đẫm cảm hứng nhân bản, mở ra cho chúng ta biết bao lăm bài học về tình người, về cuộc sống. Đây là 1 áng “thiên cổ kì bút” đáng mày mò và suy ngẫm.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 7

Mỗi 1 câu chuyện viết ra đều mang 1 ý nghĩa tự thân của nó, có công dụng cảm hoá cuộc đời và con người. Nếu 1 tác phẩm văn chương ko mang được những ý nghĩa sâu xa tương tự, nó sẽ vẫn nằm trong sự băng hoại của thời kì. Và “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ đã vượt qua được quy luật của thời kì và ko gian để tới với chúng ta ngày bữa nay.

“Chuyện người con gái Nam Xương” nằm trong tập “Truyền kì mạn lục”, 1 trong những câu chuyện lạ lưu truyền trong dân gian được biên chép lại. Lạ mà câu chuyện đấy ko viển vông tới xa vắng thực tiễn, nhưng mà nó như 1 tấm gương soi chiếu xã hội bấy giờ, là khúc ca cho tấm lòng nhân đạo của tác giả Nguyễn Dữ. Bởi những trị giá đấy nhưng mà đã hàng nghìn 5 trôi qua, vẫn còn 1 tác phẩm đi cùng với chúng ta ngày bữa nay.

Truyện kể về người con gái vùng Nam Xương, tính đã dịu hiền nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Nàng được gả cho Trương Sinh, 1 chàng trai giàu sang mà ít học, tâm tính lại cục mịch hay ghen tuông. Và chiến tranh nổ ra, Trương Sinh bị bắt đi lính, để mẹ già vợ trẻ ở nhà ngày đêm mong nhớ. Trương Sinh đi để lại cho Vũ Nương 1 người đàn ông, vì nhớ thương chồng nên nàng chỉ chiếc bóng trên tường và nói với con đấy là cha.

Ba 5 sau, Trương Sinh trở về, nghi ngại vợ mình thất tiết và đuổi đánh vợ, khiến nàng nhảy xuống sông nhưng mà tự sát. 1 thời kì sau, Trương Sinh phát xuất hiện sự thực, muốn vợ quay trở về mà mọi chuyện đã quá muộn. Cả câu chuyện như 1 vở kịch đau thương về số mệnh của người nữ giới dưới cơ chế phong kiến, tủi hổ, âu sầu tới nhường nào!

“Chuyện người con gái Nam Xương” còn còn đó tới ngày bữa nay có nhẽ là nhờ vào trị giá hiện thực thâm thúy của nó. Đấy là bức tranh về hiện thực xã hội phong kiến chứa đầy những uất ức bất công, đặc thù là với người nữ giới. Vũ Nương dù mang trong mình những phẩm giá tốt đẹp mà cũng ko được chọn lọc hạnh phúc cho cuộc đời mình.

Nàng vì trăm lạng bạc của mẹ Trương Sinh nhưng mà về làm dâu làm vợ của người, ko người nào biết nàng có hạnh phúc hay ko. Rồi lúc bị chồng nghi oan, nàng cũng ko có quyền nói lên nỗi lòng của mình. Dù bị đánh đập, bị đuổi đi nhưng mà ko được nói 1 lời giảng giải. Chính cơ chế nam quyền lúc đấy là nguyên cớ dẫn tới cuộc đời thảm kịch của Vũ Nương.

Trong tác phẩm, ta còn nhìn thấy 1 hiện thực thảm khốc hơn nữa, chính là chiến tranh phong kiến phi chính nghĩa. Cuộc chiến đấy khiến mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha. Dù cho 1 người giàu sang như Trương Sinh, cũng ko tránh khỏi vòng vây đao kiếm. Tất cả đều là để dùng cho cho nhu cầu của những thần thế phong kiến giành giật quyền lực nhưng mà đổ lên đầu con đỏ thứ dân.

Giả dụ ko có chiến tranh phong kiến, cũng ko có 3 5 cách biệt đằng đẵng giữa Vũ Nương và chồng, cũng ko có sự hiểu lầm đáng tiếc đấy. Vũ Nương phải chết, cũng 1 phần vì chiến tranh nhưng mà ra. Có thể nói, tác phẩm đã phản ảnh chân thật được những hiện thực còn nhức nhói trong xã hội bấy giờ, để sau này thiên hạ còn nhìn vào và hiểu rằng, đã có 1 thời lầm than như thế.

Nhưng 1 tác phẩm văn chương sẽ chẳng thể sống nếu nó chỉ là sự sao chép lại hiện thực 1 cách giản đơn. Trong hiện thực, ta còn phải thấy được cả tấm lòng của tác giả gửi gắm, hay chính là ngôn ngữ nhân đạo của Nguyễn Dữ trong tác phẩm của mình. Tiếng nói nhân đạo đấy trước nhất trình bày ở sự truyền tụng, trân trọng vẻ đẹp của người nữ giới trong xã hội phong kiến.

Vũ Nương được mô tả là 1 cô gái, đã có tư dung tốt đẹp lại dịu hiền nết na. Nguyễn Dữ nhìn ra được những phẩm giá cao quý nhất trong tâm hồn người con gái đấy. Chính hình thức xinh xắn và tâm tính của nàng đã chiếm được trái tim chàng Trương Sinh, để chàng phải bắt mẹ hỏi cưới cho bằng được. Từ khi đấy, Vũ Nương nổi trội lên là 1 người con hiếu hạnh. Chồng đi lính, nàng hết dạ phụng sự, chăm lo cho mẹ chồng.

Khi bà ốm, nàng tất tưởi toan lo thuốc men, lúc bà mất, nàng lo toàn hậu sự cho thật tỷ mỉ. Dẫu chỉ là mẹ chồng, nàng vẫn toàn tâm chăm nom như cha mẹ. Đấy là 1 tấm lòng thơm thảo, luôn dành sự hàm ân cho đấng sinh thành. Phẩm chất đấy thật đáng quý biết nhường nào.Khi đã làm mẹ, Vũ Nương lại hết dạ mến thương và chăm nom con.

Thương con mập lên trong cảnh thiếu cha, ngày ngày nàng chỉ chiếc bóng trên tường và nói với con đấy là cha nó. Ta có thể thấy 1 khát khao gia đình toàn vẹn để con được đủ đầy mến thương. Bi kịch của cuộc đời Vũ Nương, có chăng cũng là từ tình mến thương con đấy nhưng mà ra.

Nét nổi trội nhất trong vẻ đẹp của Vũ Nương có nhẽ chính là tấm lòng chung thuỷ 1 lòng với chồng. Khi chồng ở nhà, nàng khéo léo đảm đang ko để chồng phật ý, lúc chồng ra trận, nàng lại 1 lòng chăm nom mẹ già con bé. Nàng sống trong nỗi nhớ chồng, khát khao được gặp lại sức chồng của mình. Nàng luôn giữ được 2 chữ “đức hạnh” để ko có lỗi với chồng.

Chiếc bóng hiện ra mỗi đêm có nhẽ là minh chứng rõ nhất cho sự chung tình của Vũ Nương. Và đặc thù, lúc chết đi, nàng quay quay về gặp chồng lần nữa, 1 mặt là khẳng định tấm lòng chung tình, 1 mặt vẫn còn quyến luyến tình xưa nghĩa cũ. Tấm lòng chung tình của Vũ Nương, ko người nào có thể phủ nhận. Đấy chính là vẻ đẹp điển hình nhất cho người nữ giới Việt Nam, dù chịu bất công mà 1 lòng chung tình.

Tiếng nói nhân đạo của Nguyễn Dữ, ta còn gặp ở sự đồng cảm với khát vọng hạnh phúc của con người. Cuộc đời Vũ Nương luôn là những chuỗi ngày bị cưỡng ép, kì vọng. Nàng luôn khao khát về 1 mái ấm gia đình có đủ đầy tình mến thương mà ko thành hiện thực. Nguyễn Dữ để nàng sống hạnh phúc ở 1 toàn cầu khác, ko còn khổ cực hờn ghen tuông, chính là để hiện thực hóa ước mong hạnh phúc của con người.

“Chuyện người con gái Nam Xương”, với những trị giá hiện thực và nhân đạo của mình, đã thực thụ chạm được tới phần sâu kín nhất của trái tim con người. Đấy là nỗi lòng của chính Nguyễn Dữ, là cặp mắt nhìn đời tinh nhanh sắc sảo và tấm lòng nồng ấm mến thương. Tác phẩm đã cho ta thấy được cái tâm và cái tài của 1 nghệ sĩ mập, đấy mới là nghệ thuật chân chính ma muôn thuở con người đeo đuổi.

Thời gian vẫn sẽ tuần hoàn theo quy luật của nó, mà ta sẽ vẫn còn nhớ về tác phẩm để hoài niệm về dĩ vãng xa rời, để chua xót, để mến thương!

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 8

Nguyễn Dữ là một trong những tác giả nổi tiếng về truyện truyền kỳ. Trong những tác phẩm của ông, có lẽ “Chuyện người con gái Nam Xương” là câu chuyện đặc sắc nhất. Tác phẩm viết về số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của học. Đồng thời, qua đó ta thấy được sự đồng cảm sâu sắc của tác giả với hoàn cảnh của họ.

Vũ Nương là người con gái “tính tình thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”. Chồng nàng là Trương Sinh, một người đa nghi và hay ghen. Mặc dù vậy, với tính cách dung hòa của mình, “nàng luôn giữ gìn khuôn phép”, cuộc sống gia đình của hai người luôn ổn định, không hề xảy ra bất hòa. Khi Trương Sinh phải sung binh, nàng lại là người vợ chung thủy, một lòng một dạ với chồng, chỉ mong chàng lên đường bình an trở về, không mong đeo được ấn phong hầu. Tình yêu và ước mơ của nàng thật giản dị và ý nghĩa. Chồng đi xa, nàng sinh con và chăm sóc mẹ chồng một cách chu đáo. Khi mẹ ốm, “nàng hết sức thuốc thang, lễ Phật cầu thần”, câu nói “Sau này trời giúp người lành, ban cho phúc trạch, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, mong ông xanh kia chẳng phụ con cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ.” của mẹ chồng nàng đã cho ta thấy Vũ Nương là một người vợ chu đáo, một người con hiếu thảo biết chừng nào. Khi mẹ chồng mất, nàng đau xót, lo liệu ma chay như với cha mẹ đẻ của mình.

Tuy nhiên, người phụ nữ đức hạnh ấy lại phải chịu đựng một nỗi oan và dẫn đến cái chết thương tâm của nàng. Trong thời gian chồng đi tòng quân, nàng thường hay đùa với con bằng cách trỏ vào bóng mình trên tường và nói đó là cha Đản. Khi bị Trương Sinh nghi ngờ, nàng vẫn cố gắng hỏi rõ sự tình và thanh minh với chàng: “Thiếp vốn nhà nghèo, được vào cửa tía. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn, từng đã nguội lòng, ngõ liễu đường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói.” Tuy nhiên, khi Trương Sinh một mực không tin, nàng đã gieo mình xuống bến Hoàng Giang mà chết. Chi tiết này đã nói lên nét đẹp con người Vũ Nương, nàng sẵn sàng lấy cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình. Hành động mà Vũ Nương nhờ Phan Lang về nói với Trương Sinh yêu cầu của nàng cũng một lần nữa nói nên tấm lòng chung thủy, một lòng son sắt của nàng. Khi hiểu ra sự tình, Trương Sinh đã vô cùng ân hận, đàn giải oan đã khiến cho Vũ Nương được trả lại sự trong sạch, yên lòng, nàng đã được đức Linh Phi cho hiện về, dẫu không thể trở lại cõi trần được nữa.

Tác phẩm của Nguyễn Dữ, một tác phẩm truyền kỳ có sử dụng những yếu tố hoang đường kỳ ảo. Nhưng từ đó lại thấy được cái nhìn, sự trân trọng và cảm thông của tác giả đối với số phận người phụ nữ xưa, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của họ.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 9

Nguyễn Dữ là nhà văn lỗi lạc của đất nước ta trong thế kỷ 16. Vốn là học trò giỏi của Trạng Trình – Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngoài thơ, ông còn để lại tập văn xuôi viết bằng chữ Hán, gồm có 20 truyện ghi chép những mẩu chuyện hoang đường lưu truyền trong dân gian; cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả. Đằng sau mỗi câu chuyện thần kỳ. “Truyền kì mạn lục” chứa đựng nội dung phê phán những hiện thực xã hội đương thời được nhìn dưới con mắt nhân đạo của tác giả.

“Chuyện người con gái Nam Xương” trích trong “Truyền kì mạn lục” ghi lại cuộc đời thảm thương của Vũ Nương, quê ở Nam Xương thuộc tỉnh Nam Hà ngày nay.

Vũ Nương là một người đàn bà nhan sắc và đức hạnh “có tư dung tốt đẹp” tính tình “thuỳ mị nết na”. Trương Sinh xin mẹ trăm lạng vàng cưới nàng về, sum họp gia thất. Thời buổi chiến tranh loạn lạc, chồng phải đi lính đánh giặc Chiêm. Vũ Nương ở nhà lo bề gia thất. Phụng dưỡng mẹ già nuôi dạy con trẻ, đạo dâu con, nghĩa vợ chồng, tình mẹ con, nàng giữ trọn vẹn, chu tất. Khi mẹ chồng già yếu qua đời, một mình nàng lo việc tang ma, phận dâu con giữ tròn đạo hiếu. Có thể nói Vũ Nương là một người đàn bà có phẩm chất tốt đẹp, đáng được trân trọng ngợi ca. Ước mơ của nàng rất bình dị. Tiễn chồng ra trận, nàng không hề mơ tưởng “đeo ấn phong hầu”, chỉ mong ngày đoàn tụ, chồng trở về “được hai chữ bình yên”.

Cũng như số đông người phụ nữ ngày xưa. Cuộc đời của Vũ Nương là những trang buồn đầy nước mắt. Năm tháng trôi qua, giặc tan, Trương Sinh trở về, con thơ vừa học nói. Tưởng rằng hạnh phúc sẽ mỉm cười với đôi vợ chồng trẻ. Nhưng rồi chuyện “cãi bóng” từ miệng đứa con thơ đã làm cho Trương Sinh ngờ vực, “đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có ý gỡ ra được”. Vốn tính hay ghen, lại gia trưởng, vũ phu, ít được học hành, Trương Sinh đã đối xử với vợ hết sức tàn nhẫn. Giấu biệt lời con nói. Trương Sinh đã “mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi”. Vợ phân trần, không tin; hàng xóm khuyên can cũng chẳng ăn thua gì cả! Chính vì chồng và con – những người thân yêu nhất của Vũ Nương đã xô đẩy nàng đến bên bờ vực thẳm. Thời chiến tranh loạn lạc, nàng đã trải qua những năm tháng cô đơn, giờ đây đứng trước nỗi oan, nàng chỉ biết nuốt nước mắt vào lòng… Vũ Nương chỉ có một con đường để bảo toàn danh tiết: nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử để làm sáng ngời “ngọc Mị Nương “, toả hương “cỏ Ngu Mĩ”.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 10

Mỗi một câu chuyện viết ra đều mang một ý nghĩa tự thân của nó, có tác dụng cảm hoá cuộc đời và con người. Nếu một tác phẩm văn học không mang được những ý nghĩa sâu xa như vậy, nó sẽ vẫn nằm trong sự băng hoại của thời gian. Và “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ đã vượt qua được quy luật của thời gian và không gian để đến với chúng ta ngày hôm nay.

“Chuyện người con gái Nam Xương” nằm trong tập “Truyền kì mạn lục”, một trong những câu chuyện lạ lưu truyền trong dân gian được ghi chép lại. Lạ nhưng câu chuyện ấy không viển vông đến xa rời thực tế, mà nó như một tấm gương soi chiếu xã hội bấy giờ, là khúc ca cho tấm lòng nhân đạo của tác giả Nguyễn Dữ. Bởi những giá trị ấy mà đã hàng ngàn năm trôi qua, vẫn còn một tác phẩm đồng hành với chúng ta ngày hôm nay.

Truyện kể về người con gái vùng Nam Xương, tính đã dịu hiền nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Nàng được gả cho Trương Sinh, một chàng trai giàu có nhưng ít học, tính tình lại cục cằn hay ghen. Và chiến tranh nổ ra, Trương Sinh bị bắt đi lính, để mẹ già vợ trẻ ở nhà ngày đêm mong nhớ. Trương Sinh đi để lại cho Vũ Nương một người con trai, vì thương nhớ chồng nên nàng chỉ chiếc bóng trên tường và nói với con đó là cha.

Ba năm sau, Trương Sinh trở về, nghi ngờ vợ mình thất tiết và đuổi đánh vợ, khiến nàng nhảy xuống sông mà tự vẫn. Một thời gian sau, Trương Sinh phát hiện ra sự thật, muốn vợ quay trở về nhưng mọi chuyện đã quá muộn. Cả câu chuyện như một vở kịch đau thương về số phận của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, tủi nhục, đau khổ đến nhường nào!

“Chuyện người con gái Nam Xương” còn tồn tại đến ngày hôm nay có lẽ là nhờ vào giá trị hiện thực sâu sắc của nó. Đó là bức tranh về hiện thực xã hội phong kiến chứa đầy những uất ức bất công, đặc biệt là với người phụ nữ. Vũ Nương dù mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp nhưng cũng không được lựa chọn hạnh phúc cho cuộc đời mình.

Nàng vì trăm lạng bạc của mẹ Trương Sinh mà về làm dâu làm vợ của người, không ai biết nàng có hạnh phúc hay không. Rồi khi bị chồng nghi oan, nàng cũng không có quyền nói lên nỗi lòng của mình. Dù bị đánh đập, bị đuổi đi mà không được nói một lời giải thích. Chính chế độ nam quyền khi ấy là nguyên nhân dẫn đến cuộc đời bi kịch của Vũ Nương.

Trong tác phẩm, ta còn nhận ra một hiện thực tàn khốc hơn nữa, chính là chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Cuộc chiến ấy khiến mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha. Dù cho một người giàu có như Trương Sinh, cũng không tránh khỏi vòng vây đao kiếm. Tất cả đều là để phục vụ cho nhu cầu của những thế lực phong kiến tranh giành quyền lực mà đổ lên đầu con đỏ dân đen.

Nếu như không có chiến tranh phong kiến, cũng không có ba năm xa cách đằng đẵng giữa Vũ Nương và chồng, cũng không có sự hiểu lầm đáng tiếc ấy. Vũ Nương phải chết, cũng một phần vì chiến tranh mà ra. Có thể nói, tác phẩm đã phản ánh chân thực được những hiện thực còn nhức nhối trong xã hội bấy giờ, để sau này người đời còn nhìn vào và hiểu rằng, đã có một thời lầm than như thế.

Nhưng một tác phẩm văn học sẽ không thể sống nếu nó chỉ là sự sao chép lại hiện thực một cách giản đơn. Trong hiện thực, ta còn phải thấy được cả tấm lòng của tác giả gửi gắm, hay chính là tiếng nói nhân đạo của Nguyễn Dữ trong tác phẩm của mình. Tiếng nói nhân đạo ấy trước hết thể hiện ở sự ca ngợi, trân trọng vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Vũ Nương được miêu tả là một cô gái, đã có tư dung tốt đẹp lại dịu hiền nết na. Nguyễn Dữ nhìn ra được những phẩm chất cao quý nhất trong tâm hồn người con gái ấy. Chính vẻ ngoài xinh đẹp và tính tình của nàng đã chiếm được trái tim chàng Trương Sinh, để chàng phải bắt mẹ hỏi cưới cho bằng được. Kể từ đó, Vũ Nương nổi bật lên là một người con hiếu thảo. Chồng đi lính, nàng hết lòng phụng sự, chăm lo cho mẹ chồng.

Khi bà ốm, nàng tất tả lo toan thuốc thang, khi bà mất, nàng lo toan ma chay cho thật chu đáo. Dẫu chỉ là mẹ chồng, nàng vẫn toàn tâm chăm sóc như bố mẹ. Đó là một tấm lòng thơm thảo, luôn dành sự biết ơn cho đấng sinh thành. Phẩm chất ấy thật đáng quý biết nhường nào.Khi đã làm mẹ, Vũ Nương lại hết lòng yêu thương và chăm sóc con.

Thương con lớn lên trong cảnh thiếu cha, ngày ngày nàng chỉ chiếc bóng trên tường và nói với con đó là cha nó. Ta có thể thấy một khao khát gia đình trọn vẹn để con được đủ đầy yêu thương. Bi kịch của cuộc đời Vũ Nương, có chăng cũng là từ tình yêu thương con ấy mà ra.

Nét nổi bật nhất trong vẻ đẹp của Vũ Nương có lẽ chính là tấm lòng chung thuỷ một lòng với chồng. Khi chồng ở nhà, nàng khôn khéo đảm đang không để chồng phật ý, khi chồng ra trận, nàng lại một lòng chăm sóc mẹ già con nhỏ. Nàng sống trong nỗi nhớ chồng, khao khát được gặp lại người chồng của mình. Nàng luôn giữ được hai chữ “tiết hạnh” để không có lỗi với chồng.

Chiếc bóng xuất hiện mỗi đêm có lẽ là minh chứng rõ nhất cho sự thủy chung của Vũ Nương. Và đặc biệt, khi chết đi, nàng quay trở lại gặp chồng lần nữa, một mặt là khẳng định tấm lòng chung thủy, một mặt vẫn còn lưu luyến tình xưa nghĩa cũ. Tấm lòng chung thủy của Vũ Nương, không ai có thể phủ nhận. Đó chính là vẻ đẹp tiêu biểu nhất cho người phụ nữ Việt Nam, dù chịu bất công nhưng một lòng chung thủy.

Tiếng nói nhân đạo của Nguyễn Dữ, ta còn gặp ở sự đồng cảm với khát vọng hạnh phúc của con người. Cuộc đời Vũ Nương luôn là những chuỗi ngày bị ép buộc, chờ đợi. Nàng luôn khát khao về một mái ấm gia đình có đủ đầy tình yêu thương nhưng không thành hiện thực. Nguyễn Dữ để nàng sống hạnh phúc ở một thế giới khác, không còn khổ đau hờn ghen, chính là để hiện thực hóa ước mơ hạnh phúc của con người.

“Chuyện người con gái Nam Xương”, với những giá trị hiện thực và nhân đạo của mình, đã thực sự chạm được đến phần sâu kín nhất của trái tim con người. Đó là nỗi lòng của chính Nguyễn Dữ, là cặp mắt nhìn đời tinh anh sắc sảo và tấm lòng nồng ấm yêu thương. Tác phẩm đã cho ta thấy được cái tâm và cái tài của một nghệ sĩ lớn, đó mới là nghệ thuật chân chính mà muôn đời con người theo đuổi.

Thời gian vẫn sẽ tuần hoàn theo quy luật của nó, nhưng ta sẽ vẫn còn nhớ về tác phẩm để hoài niệm về quá khứ xa vắng, để đau xót, để yêu thương!

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 11

Nguyễn Dữ, một học trò giỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thành tài, đỗ đạt, ông ra làm quan. Một năm sau, vì chán cảnh triều đình thối nát, ông đã lấy cớ phải nuôi mẹ già mà xin từ quan. Trong những ngày sống “cảnh điền viên vui tuế nguyệt”, ông viết “Truyền kỳ mạn lục”, một tác phẩm văn xuôi đầu tiên của văn học cổ Việt Nam gồm những truyện có những chi tiết li kì. Phần lớn ca ngợi phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam phải sống trong khuôn mẫu “tam tòng, tứ đức” của đạo đức phong kiến, mà “Chuyện người con gái Nam Xương” là một.

Truyện kể lại Vũ Thị Thiết vâng lời cha mẹ làm vợ Trương Sinh, một người kém học, đất nước gặp cảnh đao binh nên Trương Sinh phải ra trận. Một tuần sau, Vũ Nương sinh con đầu lòng. Một mình chị chăm lo mẹ chồng, lo tang ma khi mẹ chồng chết, nuôi dạy con và lo công việc đồng áng. Giặc tan, Trương Sinh về, nghe lời con mà nghi ngờ lòng chung thuỷ của vợ. Vũ Nương không minh oan được nên đành trẫm mình xuống sông. Nàng được hoàng hậu ở động Rùa giúp đỡ. Sau đó, nàng gặp Phan Lang, người hàng xóm đã cứu hoàng hậu ở động Rùa. Phan Lang về kể lại cho Trương Sinh nghe. Trương Sinh hối cải lập đàn cầu xin theo lời của nàng. Nàng hiện lên gặp chồng con nhưng lại quay về sống ở động Rùa vì hai người ở hai thế giới khác biệt.

Cũng như truyện cổ, những kho truyện của Trung Hoa có ảnh hưởng nhiều đến nhà Nho đương thời (thế kỉ XVI). “Thiếu phụ Nam Xương” cũng có hai tuyến nhân vật, có những hoàn cảnh điển hình, có người giàu kẻ nghèo ở trong xã hội đang thời loạn lạc, nhiễu nhương. Nhưng dù sống trong hoàn cảnh nào thì người tốt vẫn không hề thay đổi bản chất của mình, mà Vũ Thị Thiết là nhân vật tiêu biểu. Vũ Nương nhà nghèo nhưng “tư dung tốt đẹp”, “thuỳ mị, nết na”. Thời phong kiến, con gái “tại gia tòng phụ” để có “công, dung, ngôn, hạnh’’, Vũ Nương được như thế chứng tỏ nàng có sắc đẹp (dung) trời cho nhưng “thuỳ mị, nết na” thì ắt là do sự giáo dục của gia đình.

Nàng nghèo nhưng không mất nề nếp gia phong. Trái lại “Trương Sinh tuy con nhà hào phú nhưng không có học”. Một loạt các nhân vật tốt xuất thân từ những hoàn cảnh sống khác nhau như mẹ chồng, người láng giềng Phan Lang, hoàng hậu động Rùa Linh Phi … đủ chứng tỏ giàu nghèo tuy có ảnh hưởng đến hình thức sống nhưng khó thay đổi được bản chất của họ.

“Nam Xương tử nữ truyện” không chỉ giới thiệu những nhân vật tốt, xấu ấy mà còn thông qua họ Nguyễn Dữ muốn đề cao sự chung thuỷ và lòng bao dung luôn được nhân vật này thể hiện trong từng lời nói đến từng sự việc. Vâng lời cha mẹ chịu lấy Trương Sinh làm chồng, nàng đã trước sau như một làm người con hiếu thảo. Không chỉ hiếu thảo với cha mẹ ruột. Vũ Nương còn hiếu thảo với mẹ chồng. Nàng một mình đã lo toan đỡ đần mẹ chồng lúc ốm đau, rồi mẹ chồng chết lại lo chôn cất. Người phụ nữ có con mọn như nàng mà vẫn chu toàn những công việc nặng nhọc ấy thay chồng mà không tiếng kêu than thì quả thật là hiếm có. Mẹ chết, một mình ở vậy nuôi con chờ ngày chồng trở về thì bảo nàng không chung thuỷ sao cho được?! Chồng với vợ như bóng với hình, nàng đã mượn chiếc bóng của mình để an ủi con, muốn đứa con nhỏ dại luôn nghĩ rằng mình cũng là đứa trẻ có cha. Khi bị Trương Sinh nghi ngờ, nàng đã bao lần hỏi rõ dù bị dằn vặt, chửi mắng, đánh đập. Nàng đã từng tâm sự với chồng: “Thiếp vốn con nhà khó, được nương tựa nhà giàu … Đâu có hư thân như lời chàng nói. Khi nhận thấy không thể nào xóa tan được mối nghi ngờ nhục nhã, hạ thấp phẩm giá một cách oan khuất, nàng đã quyết định tự trẫm mình, mượn dòng nước trong để rửa sạch những oan khiên. Xét cho cùng, kiên quyết bảo toàn danh dự của con người cũng là lòng chung thuỷ sắt son! Lại nữa khi gặp được Phan Lang, người hàng xóm tốt bụng ở động Rùa, Vũ Nương vẫn không quên chồng khi nàng tâm sự cùng Phan Lang và nhờ Phan Lang về nói lại với Trương Sinh yêu cầu của nàng, điều đó vừa thể hiện sự chung thuỷ, vừa tỏ ra bao dung đối với Trương Sinh.

Cả đến Phan Lang, hoàng hậu Linh Phi cũng đều là những người có lòng bao dung, chung thuỷ. Chỉ riêng có Trương Sinh là có lòng ích kỷ, hẹp hòi, tối dạ vì thuở nhỏ không lo chuyện sách đèn. Chỉ cần nghĩ đến công lao của vợ lúc chàng đang ở ngoài mặt trận, chỉ cần sống gần gũi với láng giềng, chỉ cần có lòng tin vào lòng chung thuỷ của vợ thì nghi vấn xuất phát từ lời nói của con nít “Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng…” đã được giãi bày để rồi vợ chồng lại sống trong cảnh đầm ấm, thương yêu.

Một nội dung khác thật rõ ràng trong chuyện là ân oán phân minh. Vũ Nương là người phụ nữ, có lẽ mang đặc tính ấy trong cuộc sống. Vì lẽ đó, khi nàng không còn đủ kiên nhẫn chờ đợi chồng biểu lộ ấy thì nàng tự biểu lộ. Cái chết của nàng hàm chứa ý nghĩa ấy, làm cho Trương Sinh phải nhận ra ân tình nàng đã mang đến cho chàng và nỗi oan khiên mà nàng phải chịu. Trường hợp giữa hoàng hậu Linh Phi và Phan Lang cũng vậy. Hoàng hậu đã được Phan Lang cứu nên khi Phan Lang gặp nạn khi lên thuyền ra biển tránh sự truy đuổi của quân giặc thì đã được Linh Phi hết lòng cứu chữa, lại thếp tiệc đãi, tặng thêm ngọc ngà … trước khi tiễn chân chàng trở về làng quê.

Như thế, ngay truyện ngắn thuộc văn viết, dù là chữ Hán trong buổi sơ khai cũng đang mang hoàn cảnh điển hình, con người điển hình của đời thường vào tác phẩm; cũng có đầy đủ người giàu, kẻ nghèo, hỉ – nộ – ái – ố với kết thúc có hậu ở nội dung là ở hiền gặp lành.

Truyện có rất nhiều chi tiết nhưng được liên kết bởi quan hệ nhân quả nên có kết cấu khá chặt chẽ. Mở đầu truyện, Nguyễn Dữ đã khéo léo giới thiệu Vũ Thị Thiết và Trương Sinh, hai nhân vật chính có hoàn cảnh, tính cách trái ngược nhau để làm cơ sở cho việc khai thác nhân vật sau này. Tính tình, hoàn cảnh sống trái ngược nhau nhưng lại nên vợ nên chồng chỉ vì vâng lời cha mẹ. Quan hệ nhân quả thể hiện từ đầu. Từ đó, quan hệ nhân quả của hai nhân vật diễn ra một cách tự nhiên, hợp lý. Vì nước có loạn binh đao nên chàng mới ra trận. Vì chàng vào nơi gió cát nên nàng phải nặng gánh giang san nhà chồng. Vì con thơ nói đến cha nên mẹ đã mượn cái bóng của mình thay thế; cho con đỡ hổ thẹn với bạn bè. Vì nghe lời con trẻ nên Trương Sinh mới nghi ngờ vợ … Chuỗi nguyên nhân và kết quả đầy kịch tính ấy đã dần đến đỉnh điểm là Vũ Nương quyết định trầm mình. Nếu chuyện kết thúc ở đây thì quả là bi đát, không có hậu. Có lẽ vì thế mà những chi tiết thần kỳ được thêm vào. Ấy là Phan Lang nằm mơ thấy con rùa xanh kêu cứu. Rồi Phan Lang nhớ lại và thả rùa để rồi sau đó là được rùa cứu mạng trả ân và gặp Vũ Nương ở động Rùa. Những chi tiết thần kỳ ấy ở vào thời buổi mà vua quan, thần dân đều tin vào sự hiện hữu của Trời, Thần, Quỷ, Ma… giống như trong những truyện cổ thì cũng là điều không mấy ngạc nhiên. Có những chi tiết đó, Vũ Nương mới gặp được chồng để giải mối oan khiên, nhục nhã nhất của đời làm vợ. Và dù ra đời sau “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn ba thế kỷ, “Nam Xương tử nữ truyện” vẫn còn những câu văn biền ngẫu cổ xưa.

Dù có những hạn chế ấy nhưng truyện Người con gái Nam Xương không những có giá trị đạo lý, lịch sử (phản ánh sự rối ren của xã hội phong kiến) mà cũng có giá trị nghệ thuật xây dựng truyện.

Cho tới nay, “Người con gái Nam Xương” vẫn còn lôi cuốn người đọc. Giữa xã hội nam nữ bình quyền thì nó là cột mốc để so sánh vai trò của người phụ nữ trong văn học xưa và nay. Giữa xã hội suy đồi về đạo đức, nhất là với nữ giới thì nội dung truyện là một bài học đạo đức truyền thống tốt.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 12

Nguyễn Dữ là nhà văn lỗi lạc của đất nước ta trong thế kỷ XVI. Vốn là học trò giỏi của Trạng Trình – Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngoài thơ, ông còn để lại tập văn xuôi viết bằng chữ Hán, gồm có 20 truyện ghi chép những mẩu chuyện hoang đường lưu truyền trong dân gian; cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả. Đằng sau mỗi câu chuyện thần kỳ. “Truyền kì mạn lục” chứa đựng nội dung phê phán những hiện thực xã hội đương thời được nhìn dưới con mắt nhân đạo của tác giả.

“Chuyện người con gái Nam Xương” trích trong “Truyền kì mạn lục” ghi lại cuộc đời thảm thương của Vũ Nương. Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính tình thùy mị nết na, tư dung tốt đẹp nên được Trương Sinh đem lòng yêu mến liền xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về làm vợ. Biết chồng có tính đa nghi nên, Vũ Nương hết mực giữ gìn khuôn phép. Bấy giờ, đất nước có chiến tranh, Trương Sinh phải lên đường đi lính. Vũ Nương ở nhà sinh nuôi dạy con và chăm sóc mẹ già, lo ma chay chu đáo khi mẹ chồng mất. Khi Trương Sinh trở về, bế con ra mộ thăm mẹ thì hiểu lầm rằng vợ có người khác. Vũ Nương chịu oan khuất biết không thể rửa sạch liền nhảy xuống sông tự vẫn. Một đêm nọ, Trương Sinh bế con ngồi trước ngọn đèn, thấy đứa bé chỉ vào cái bóng mình bảo đấy là cha mới nhận ra mình đã hiểu lầm vợ, hối hận cũng đã muộn. Cùng làng có người tên là Phan Lan vì cứu Linh Phi trước đó nên khi gặp nạn chết đuối đã được Linh Phi cứu sống, tình cờ gặp Vũ Nương ở thủy cung. Phan Lang trở về trần gian Vũ Nương gửi theo chiếc hoa vàng cùng lời nhắn Trương Sinh. Trương Sinh lập đàn giải oan bên bến Hoàng Giang. Vũ Nương hiện ra và nói lời đa tạ chàng, rồi biến mất.

Có thể nói Vũ Nương là một người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp, đáng được trân trọng ngợi ca. Ước mơ của nàng rất bình dị. Tiễn chồng ra trận, nàng không hề mơ tưởng “đeo ấn phong hầu”, chỉ mong ngày đoàn tụ, chồng trở về “được hai chữ bình yên”. Nhưng người phụ nữ ấy lại không được hưởng một cuộc sống hạnh phúc. Chiến tranh kết thúc, Trương Sinh trở về cũng là lúc con thơ vừa học nói. Tưởng rằng ngày đoạn tụ cũng là ngày hạnh phúc sẽ mỉm cười với đôi vợ chồng trẻ. Nhưng câu chuyện “cái bóng” từ miệng đứa con thơ đã làm cho Trương Sinh hiểu lầm và cho rằng “vợ hư”. Mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có ý gỡ ra được”. Vốn đa nghi lại hay phòng ngừa vợ. Giấu biệt lời con nói. Trương Sinh đã “mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi”. Cho dù Vũ Nương kết mực giải thích cũng không được. Cuối cùng, nàng phải tìm đến cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình. Thời chiến tranh loạn lạc, nàng đã trải qua những năm tháng cô đơn, giờ đây đứng trước nỗi oan, nàng chỉ biết nuốt nước mắt vào lòng…

Thông qua cuộc đời của Vũ Nương, nhà văn muốn gửi gắm những giá trị nhân văn cao cả. Truyện là lời khẳng định sự trân trọng đối với những ước mơ chính đáng, khát vọng cao đẹp như: khát vọng được hạnh phúc, ước mơ về sự công bằng trong xã hội. Cùng với đó là niềm xót thương, cảm thông sâu sắc của tác giả đối với số phận của người phụ nữ. Không chỉ vậy, nhà văn cũng lên án, phê phán, tố cáo xã hội phong kiến đã chà đạp lên quyền sống của con người. Cuối cùng là lời khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến

“Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong những tác phẩm xuất sắc góp phần vào tiếng nói chung đòi sự bình đẳng cho người phụ nữ.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 13

“Chuyện người con gái Nam Xương” thuộc tác phẩm “Truyền kì mạn lục” (ghi chép tản mạn những điều kỳ lạ vẫn được lưu truyền), được viết ở thế kỉ XVI. Tác phẩm này có nguồn gốc từ truyện cổ dân gian “Vợ chàng Trương”. Nhưng điều làm nên sự khác biệt cho tác phẩm chính là tư tưởng mà nhà văn muốn gửi gắm trong câu chuyện.

Vũ Nương vốn là một người phụ nữ “người đã thùy mị nết na, lại thêm có tư dung tốt đẹp”. Những tưởng con người ấy sẽ có được cuộc sống hạnh phúc nhưng nàng lại gặp phải nhiều bất hạnh. Tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” đã thể hiện tấm lòng trân trọng của tác giả đối với những vẻ đẹp dung dị, cao cả của người phụ nữ cũng như đồng cảm với những bất hạnh mà cuộc đời họ phải hứng chịu.

Người phụ nữ Việt Nam muôn đời nay được ngợi ca bởi vẻ đẹp dịu dàng, kín đáo và tâm hồn đôn hậu bao dung. Người phụ nữ hiện lên trong “Chuyện người con gái Nam Xương” cũng vậy. Đó là nàng Vũ Nương đẹp nết đẹp người và đầy tự trọng.

Nàng có một “tư dung tốt đẹp” nức tiếng xa gần. Chẳng vậy mà Trương Sinh – một người “con nhà hào phú” phải xin mẹ trăm lạng vàng rước nàng về làm vợ. Chẳng những vậy, nàng còn là người phụ nữ hiền hậu nết na, người vợ hiền, dâu thảo, người mẹ thương con.

Trong mối quan hệ vợ chồng hằng ngày, biết chồng “có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức”. Vũ Nương đã luôn “giữ gìn khuôn phép, không lần nào vợ chồng phải đến nỗi thất hoà”. Hai vợ chồng chia ly, Vũ Nương một lòng nghĩ đến sự an nguy của chồng “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. […] Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng”. Như vậy là nàng không hề nghĩ đến vinh hoa phú quý, chỉ nghĩ đến chân thành với tình vợ chồng keo sơn. Xa chồng, Vũ Nương thuỷ chung, tấm lòng luôn tha thiết hướng về chồng: “Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”.

Trương Sinh trở về, nghi cho Vũ Nương một cái oan thảm khốc và dùng những lời lẽ tàn nhẫn mà nhiếc móc nàng. Nhưng ngay cả khi ấy, Vũ Nương vẫn nói năng đúng mực, tha thiết bày tỏ nỗi niềm và ước mong về cuộc sống gia đình hạnh phúc.

Trong mối quan hệ với mẹ chồng, nàng hết lòng chăm sóc mẹ chồng lúc ốm đau: “Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”. Khi mẹ chồng mất, nàng thương yêu, lo lắng chu toàn: “Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”. Tấm lòng nàng dành cho mẹ chồng khiến bà cảm động để khi mất, những lời cuối cùng thiêng liêng của cuộc đời bà dành để chúc phúc cho con dâu. Xưa nay, trong dân gian vẫn lưu truyền câu nói “mẹ chồng con dâu” để chỉ mối quan hệ vốn không yên ấm giữa hai đối tượng này nhưng qua thái độ của người mẹ chồng đối với Vũ Nương người đọc thấu hiểu tấm lòng chân thành, sâu sắc đối với mẹ chồng của nàng.

Với con, Vũ Nương đã hết sức nuôi dạy, bảo ban, thương yêu và chiều chuộng con (để đến nỗi một trong những hành động vô tư của nàng đã trở thành nguyên nhân buộc nàng tự vẫn…).

Không chỉ vậy, với tư cách là một cá nhân trong xã hội, ở Vũ Nương còn nổi bật lên lòng tự trọng đầy cảm động. Bị chồng hiểu lầm, bị hàm oan tức tưởi, dẫu vẫn còn khao khát hạnh phúc trần gian nhưng Vũ Nương đã chọn cái chết để chứng minh phẩm tiết trong sạch của mình. Hành động này cho thấy lòng tự trọng, ý thức giữ gìn danh dự, tiết hạnh ở người phụ nữ đáng trân trọng này.

Ngợi ca vẻ đẹp của “người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã góp tiếng nói chung vào cảm hứng ngợi ca người phụ nữ đầy nhân văn của văn học trung đại. Bên cạnh Vũ Nương của Nguyễn Dữ ta còn có thể kể đến chị em Thúy Kiều, Thúy Vân của Nguyễn Du, người chinh phụ trong thơ của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm…

Nhưng trong xã hội phong kiến thời kỳ suy sụp, thối nát, cái đẹp thường đi liền với nỗi bất hạnh và những tai họa khôn lường: “Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Khi ấy, văn học lại cất lên tiếng nói đồng cảm với những thân phận bị “gió dập sóng vùi” chẳng biết “tấp vào đâu”. Nàng Vũ Nương của Nguyễn Dữ cũng phải hứng chịu nhiều bất hạnh.

Trước hết, nàng có một cuộc hôn nhân không được lựa chọn. Với vẻ đẹp vốn có, đáng ra nàng phải được kén một tấm chồng đức tài tương xứng. Nhưng đáng tiếc thay, cuộc đời lại chỉ dành cho nàng một gã Trương Sinh. Đó là một kẻ vô học nhưng giàu có “con nhà hào phú” đã “xin mẹ trăm lạng vàng” lấy nàng về làm vợ. Người phụ nữ vẹn toàn này không có quyền lựa chọn cho mình một người chồng tương xứng. Cuộc hôn nhân của nàng do vàng bạc mở đường, đó như một cuộc trao đổi, mua bán đầy tính thương mại.

Về đến nhà chồng, Vũ Nương phải hết sức giữ gìn trước con người rất mực đa nghi của Trương Sinh: “Đối với vợ phòng ngừa quá sức”. Nhưng hạnh phúc phải do cả hai bên vợ chồng cùng đắp vun gìn giữ. Sau mấy năm dài đằng đẵng mong ngóng chồng về, cái giá Vũ Nương nhận được thật quá chua xót.

Khi chồng đi lính, đêm đêm để con đỡ tủi và lòng mình đỡ nhớ, Vũ Nương chỉ bóng mình trên vách rồi bảo con đó là cha nó. Nhưng thiện ý của nàng đã bị hiểu lầm. Nghe con nói kể về người cha đêm đêm vẫn đến của nó, Trương Sinh với tính đa nghi sẵn có đã hiểu oan cho tấm lòng thủy chung của Vũ Nương. Chàng ta vội nghe lời con trẻ mà không suy xét đúng sai: “Tính chàng hay ghen, nghe con nói vậy, đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được”. Rồi hồ đồ, độc đoán không đếm xỉa đến những lời thanh minh của vợ, đối xử tệ bạc, vũ phu với Vũ Nương: “Chỉ lấy chuyện bóng gió này nọ mà mắng nhiếc nàng, và đánh đuổi đi”.

Trước nỗi oan không gì giãi bày được (vì Trương Sinh không nói rõ nguyên cớ việc nổi giận của mình), cuộc đời Vũ Nương bế tắc: Nếu sống thì phải mang cái tiếng phản chồng đầy ô nhục. Bởi vậy, dẫu vẫn còn khao khát vương vấn hạnh phúc trần gian, nàng đành chấp nhận cái chết, trầm mình xuống sông Hoàng Giang.

Thân phận nhỏ nhoi, bèo bọt của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến là vậy, họ không được làm chủ cuộc sống của mình, luôn luôn là kẻ bị động, hứng chịu những oan khiên, cay đắng. Số phận bất hạnh của Vũ Nương gợi đến bao phong ba bão táp đã đi qua cuộc đời của những Đạm Tiên, Thúy Kiều, Tiểu Thanh, người cung nữ, người chinh phụ… trong văn học trung đại.

Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, tác phẩm của Nguyễn Dữ không tiến xa hơn câu chuyện dân gian là mấy. Nguyễn Dữ đã vô cùng trăn trở với số phận của người con gái đa đoan trong tác phẩm của mình. Tin tưởng và yêu mến nhân vật, nhà văn đã để nàng gửi mình chốn cung mây dưới nước của Linh Phi. Chốn ấy dẫu chẳng được sum vầy cùng con trẻ, người thân song vẫn là nơi biết trọng những tâm hồn trong đẹp. Vũ Nương trở về nhân gian trong ánh sáng lung linh kì ảo của ánh nến, mặt nước diệu kỳ.

Ngoài nhân vật Vũ Nương, ta cũng không thể quên một Trương Sinh hồ đồ đã đẩy người đầu gối tay ấp với mình đến chỗ chết. Trương Sinh là con nhà trọc phú, lại ít học cũng như đa nghi. Do ít học nên khi chiến tranh xảy ra tuy nhà giàu có nhưng Trương Sinh vẫn phải đi lính. Do đa nghi, hay ghen đã làm cho Trương Sinh mờ mắt, chỉ nghe lời từ đứa con ngây thơ không chịu nghe lời phân trần của vợ. Trương Sinh là người trực tiếp đẩy Vũ Nương vào bi kịch và phải tìm đến cái chết. Đến khi hiểu ra và hối hận thì đã quá muộn màng.

Bên cạnh nội dung, tác phẩm đã xây dựng được tình huống truyện độc đáo, chi tiết mang tính thắt nút, đẩy câu chuyện lên cao trào, đỉnh điểm: cái bóng trở thành chi tiết thắt nút cũng như cởi nút cho diễn biến tác phẩm. Nghệ thuật kể chuyện đặc sắc: việc dẫn dắt tình huống hợp lý. Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng là một điểm nhấn. Bước đầu nhà văn đã miêu tả nội tâm nhân vật khá phong phú.

Qua phân tích trên, có thể thấy “Chuyện người con gái Nam Xương” là một tác phẩm giàu giá trị của nhà văn Nguyễn Dữ.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 14

Nguyễn Dữ là một gương mặt tiêu biểu điển hình cho nền văn học trung đại Việt Nam ở thế kỉ thứ XVI. Mặc dù, sự nghiệp sáng tác văn chương của Nguyễn Dữ chỉ vẻn vẹn có tập truyện “Truyền kì mạn lục” nhưng tập truyện lại có một vị trí đặc biệt, được đánh giá là “thiên cổ kì bút” (bút lạ nghìn đời), “là áng văn hay của bậc đại gia”. Đây là tập truyện viết bằng chữ Hán, khai thác các truyện cổ dân gian và các truyền thuyết lịch sử, dã sử Việt Nam. “Chuyện người con gái Nam Xương” là thiên thứ 16, trong tổng số 20 truyện của “Truyền kì mạn lục”. Thông qua bi kịch Vũ Nương, nhà văn đã thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ. Tác phẩm là một áng văn độc đáo, đánh dấu sự thành công về nghệ thuật dựng truyện; khắc họa miêu tả nhân vật và sự kết hợp giữa tự sự với trữ tình, giữa yếu tố hiện thực và kì ảo.

Trước hết, “Chuyện người con gái Nam Xương” đã khắc họa thành công vẻ đẹp truyền thống và số phận oan nghiệt của người phụ nữ đương thời. Điều này được thể hiện qua nghệ thuật dựng truyện và xây dựng hình tượng nhân vật Vũ Nương. Vũ Nương là một người con gái đẹp người, đẹp nết, đại diện cho vẻ đẹp của người phụ nữ thời kì phong kiến: “tính đã thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”. Trương Sinh vì cảm mến cái dung hạnh ấy nên đã xin mẹ trăm lạng vàng để cưới về làm vợ. Sau đó, nhà văn tập trung làm nổi bật vẻ đẹp đức hạnh của nàng, bằng việc đặt Vũ Nương vào rất nhiều hoàn cảnh, tình huống và các mối quan hệ xung quanh như với chồng, với mẹ chồng và với đứa con trai tên là Đản, từ đó góp phần bộc lộ trọn vẹn tính cách, phẩm hạnh của nàng.

Đầu tiên là Vũ Nương trong mối quan hệ với người chồng – Trương Sinh. Nàng hiện lên là một người vợ nhất mực thủy chung, yêu thương chồng tha thiết. Trong cuộc sống vợ chồng bình thường, khi mới lấy nhau, nàng hiểu tính chồng có thói đa nghi, thường đề phòng vợ quá mức nên Vũ Nương đã cư xử khéo léo, đúng mực, nhường nhịn và giữ đúng khuôn phép, không bao giờ để xảy ra nỗi bất hòa trong gia đình. Vì thế, chúng ta có thể thấy, nàng là người phụ nữ hiểu chồng, biết mình và rất đức hạnh. Khi người chồng chuẩn bị đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy và dặn dò Trương Sinh bằng những lời nói đầy nghĩa tình, thắm thiết. Nàng không mong vinh hiển, chỉ cần chồng mang về hai chữ “bình yên”. Ở nhà, Vũ Nương nhớ thương chồng da diết. Mỗi lần thấy “bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi” nàng lại cảm thấy “thổn thức tâm tình”, nhớ thương chồng nơi biên ải xa xôi. Tiết hạnh của nàng còn được khẳng định khi nàng bị chồng nghi oan: “cách biệt ba năm, giữ trọn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót…”. Khi Trương Sinh đi lính trở về, một mực khăng khăng cho rằng nàng thất tiết, Vũ Nương đã ra sức phân trần để cho chồng hiểu, nói lên thân phận của mình, nhắc tới tình nghĩa phu thê và khẳng định một lòng nhất mực thủy chung, son sắt với chồng. Thậm chí, nàng còn cầu xin chồng “đừng nghi oan cho thiếp”. Có nghĩa là Vũ Nương đang ra sức giữ gìn, hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ. Điều đó cho thấy nàng thực sự rất trân trọng hạnh phúc gia đình mà mình đang có và càng làm nổi bật lên niềm khát khát hướng tới hạnh phúc gia đình ấm êm của người phụ nữ Vũ Nương.

Tiếp đến, Vũ Nương trong mối quan hệ với mẹ chồng và bé Đản. Nàng hiện lên là một người con hiếu thảo, một người mẹ rất mực tâm lý, yêu thương con cái. Chồng đi lính, ở nhà, nàng một mình sinh con, nuôi dạy con, vừa đóng vai trò là một nguời mẹ, lại vừa đóng vai trò là một người cha. Nàng sợ con mình thiếu thốn tình cảm của người cha nên đêm đêm thường mượn bóng mình, chỉ vào tường mà bảo là cha Đản. Nàng thay chồng làm tròn bổn phận, trách nhiệm của một người con hiền, dâu thảo: chăm sóc, thuốc thang, lễ bái thần Phật, hết lòng khuyên lơn mẹ chồng. Đến khi mẹ chồng mất, nàng tổ chức ma chay tế lễ chu đáo như với cha mẹ đẻ của mình vậy. Vì thế, bà mẹ chồng đã viện cả trời xanh để chứng minh cho lòng hiếu thảo của cô con dâu: “Xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Điều đó đã cho thấy nhân cách tuyệt vời và công lao to lớn của Vũ Nương đối với gia đình nhà chồng này.

Như vậy, một người phụ nữ đẹp người, đẹp nết đảm đang, hiếu thảo, nhất mực thủy chung và hết lòng vun vén, trân trọng hạnh phúc gia đình như thế, đáng lẽ ra phải được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, tìm được một người chồng tâm lý, cảm thông và sẻ chia những nỗi lo toan cho vợ, nhưng thật éo le và nghịch lý thay, nàng lại phải chịu một cuộc sống gia đình bất hạnh và phải chết trong đau đớn, xót xa, đầy nước mắt. Đó là khi Trương Sinh sau ba năm đi lính trở về, bé Đản không chịu nhận cha, nghe lời nói của con “Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”, Trương Sinh nhất nhất cho rằng “vợ hư”. Mặc dù Vũ Nương đã tìm cách để giải thích lại thêm họ hàng, làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng nhưng mối nghi ngờ vợ của Trương Sinh ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được. Cuối cùng “cái thú vui nghi gia nghi thất” đã không còn “bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió”, cả nỗi đau chờ chồng đến hóa đá cũng không còn có thể được: “đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa”. Nàng đã trẫm mình xuống dòng nước Hoàng Giang lạnh lẽo. Đó là hành động quyết liệt để bảo toàn danh dự, nhân phẩm trong một nỗi đau tuyệt vọng cùng cực, đau đớn.

Vậy đâu là nguyên nhân dẫn tới cái chết oan nghiệt của Vũ Nương. Đó trước hết là do chi tiết cái bóng và những lời nói ngây thơ của bé Đản. Nhưng nguyên nhân sâu xa đằng sau đó là từ người chồng đa nghi, thô bạo. Ngay từ đầu truyện, nhà văn đã giới thiệu Trương Sinh là “con nhà hào phú nhưng không có học”, lại có tính đa nghi, đối với vợ thì hay phòng ngừa quá mức, thiếu cả lòng tin và tình thương với người tay ấp má kề với mình. Đó chính là mầm mống của bi kịch để rồi trong hoàn cảnh đi lính ba năm xa nhà, xa vợ, thói ghen tuông, ích kỷ của bản thân chàng nổi lên và giết chết người vợ của mình. Đồng thời, chế độ phong kiến hà khắc, nam quyền độc đoán đã dung túng cho thói gia trưởng của người đàn ông, cho phép người đàn ông có thể đối xử tệ bạc với người phụ nữ của mình. Và người phụ nữ không có quyền được lên tiếng, không có quyền tự bảo vệ ngay cả khi có “họ hàng, làng xóm bênh vực và biện bạch cho”… Tất cả đã đẩy Vũ Nương – người phụ nữ đẹp đương thời vào con đường bi kịch, phá tan đi những hạnh phúc gia đình của người phụ nữ, dồn đẩy họ vào con đường cùng không lối thoát.

Cũng cần nói thêm, sự thành công của “Chuyện người con gái Nam Xương” còn được thể hiện ở chỗ, Nguyễn Dữ đã khéo léo dẫn dắt câu chuyện trên cơ sở cốt truyện có sẵn, ông đã sắp xếp lại, tô đậm, thêm bớt làm cho câu chuyện trở nên sinh động, mang tính kịch và tăng cường tính bi kịch. Có thể nói, dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ, “Chuyện người con gái Nam Xương” đã có sự thành công vượt bậc so với bản kể dân gian “Vợ chàng Trường”. Điều này được thể hiện qua chi tiết chiếc bóng và lời nói của bé Đản. Từ đó, tạo nên sự thắt nút và mở nút của câu chuyện, làm câu chuyện trở nên hấp dẫn, tình tiết lôi cuốn, chặt chẽ. Đầu tiên là “thắt nút” câu chuyện: chỉ một câu nói ngây thơ của một đứa trẻ lên ba nói với cha mà như một cơn bão dây chuyền, đã tạo nên biết bao nhiêu là giống lốc cuộc đời, lật nhào hết tất cả mọi sự bình yên thủa trước. Để rồi, trong một chốc nóng giận, thói nghi kị trong lòng người đàn ông độc đoán, chuyên quyền đã phá tan đi hạnh phúc yên ấm mà mình đang có; đẩy cuộc đời của người phụ nữ đẹp người, đẹp nết vào cái chết thương tâm, thấm đẫm nước mắt. Và cũng thật bất ngờ thay, câu chuyện lại được “gỡ nút” bằng một câu nói trẻ thơ non dại. Khi thấy cái bóng của Trương Sinh in trên vách, bé Đản liền nói: “Cha Đản lại đến kia kìa!” thì bao nhiêu oan khuất lại được lật nhào sáng tỏ. Vũ Nương vô tội!

Bên cạnh đó, truyện còn thành công trong việc sử dụng nghệ thuật đối thoại, lời tự bạch của nhân vật được sắp xếp đúng chỗ, làm cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc họa diễn biến tâm lí và tính cách nhân vật: lời nói của bà mẹ Trương Sinh nhân hậu, từng trải; lời lẽ của Vũ Nương bao giờ cũng chân thành, dịu dàng, mềm mỏng, có lý, có tình – lời của người phụ nữ hiền thục, đoan chính; lời của Bé Đản hồn nhiên, ngây thơ, thật thà.

Cuối truyện, Vũ Nương hiện về thấp thoáng trên chiếc kiệu hoa giữa dòng, võng lọng, cờ kiệu rực rỡ đầy sông, nàng nói lời đa tạ Linh Phi và tạ từ Trương Sinh rồi biến mất. Đây là những chi tiết, hình ảnh thể hiện sự sáng tạo của Nguyễn Dữ về mặt kết cấu truyện bằng việc sử dụng yếu tố kì ảo, hoang đường, góp phần tăng thêm giá trị hiện thực và ý nghĩa nhân văn của tác phẩm, làm nên đặc trưng của thể loại truyền kì. Nếu như trong truyện kể dân gian, sau khi Vũ Nương chết, Trương Sinh tỉnh ngộ, nhận ra sai lầm của mình thì cũng là lúc truyện cổ tích khép lại, điều đó đã để lại niềm xót xa đau đớn cho người đọc về thân phận bất hạnh oan khiên của người phụ nữ tiết hạnh, thì trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, ông đã sáng tạo thêm phần đuôi của truyện, góp phần làm lên những giá trị thẩm mĩ và tư tưởng mới của truyện. Đó là làm hoàn thiện thêm nét đẹp tính cách, phẩm chất của nhân vật và chứng tỏ được Vũ Nương trong sạch. Ở thế giới bên kia, nàng được đối xử xứng đáng với phẩm giá của mình. Vì thế, Nguyễn Dữ đã đáp ứng được ước mơ của con người về sự bất tử, sự chiến thắng của cái thiện, cái đẹp, thể hiện nỗi khát khao hạnh phúc trong một cuộc sống công bằng, hạnh phúc cho những con người lương thiện, đặc biệt là người phụ nữ đương thời.

Tóm lại, “Truyền kì mạn lục” nói chung và “Chuyện người con gái Nam Xương” nói riêng của Nguyễn Dữ là một tác phẩm độc đáo, đánh dấu một bước phát triển đột khởi của nền văn xuôi tự sự chữ Hán trong nền văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm đã đạt được thành tựu nghệ thuật nổi bật trên ba phương diện: xây dựng tình tiết, kết cấu; xây dựng nhân vật; sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo. Thông qua cuộc đời và số phận bất hạnh của Vũ Nương, tác giả đã phản ánh số phận bi thương của người phụ nữ phong kiến, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của họ. Đồng thời, thể hiện thái độ phê phán đối với một xã hội phi nhân đã gây ra biết bao khổ đau cho con người. Mặc dù truyện cũng cách xa chúng ta vào thế kỉ rồi nhưng tính thời sự của truyện vẫn còn vang vọng tới ngày hôm nay.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 15

“Truyền kỳ mạn lục” là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta ở thế kỷ XVI, một tập truyện văn xuôi bằng chữ Hán đầu tiên ở Việt Nam. “Chuyện người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm đó được trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

Truyện kể về một người phụ nữ tên là Vũ Thị Thiết ở huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nam. Vốn là một người vợ đoan chính, đảm đang. Nàng giữ lòng chung thuỷ, hầu hạ mẹ chồng, chăm sóc con thơ trong suốt thời gian chồng đi lính ở phương xa. Khi trở về vì nghe lời ngây thơ của con trẻ, người chồng nghi ngờ nàng thất tiết nên đánh mắng đuổi đi. Không thể phân giải được oan tình, nàng trẫm mình ở sông Hoàng Giang. Cảm động vì lòng trung thực của nàng, Linh Phi (vợ vua biển) cứu vớt nàng và cho ở lại Long Cung. Người chồng biết vợ bị oan nên rất hối hận, lập đàn giải oan cho nàng. Vũ Nương hiện lên, ẩn hiện trong chốc lát rồi trở lại Long Cung.

Chuyện ca ngợi một người phụ nữ có phẩm chất, có tâm hồn trong sáng, sáng ngời như ngọc lại bị nỗi oan tày trời vì một chuyện ghen tuông vớ vẩn của người chồng nông nổi. Cuối cùng nàng phải tìm đến cái chết để giải nỗi oan tình.

Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh khác nhau, qua đó bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ. Vũ Nương vốn là người con gái có tư dung tốt đẹp, tính tình thuỳ mị, nết na. Khi lấy chồng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng phải thất hoà dù Trương Sinh vốn có tính hay ghen. Khi chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy tiễn chồng. Lời của nàng thật xúc động, nói về niềm yêu thương, mong nhớ của mình đối với người chồng sẽ đi xa, rồi bày tỏ nỗi lo lắng trước những gian lao nguy hiểm mà người chồng sẽ trải qua, niềm mong ước được đoàn tụ … làm mọi người trong tiệc đều ra hai hàng lệ.

Chồng đi đánh giặc ngoài biên ải, nàng một lòng son sắt, thuỷ chung, “cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết”, mong đợi chồng về trong cô đơn mòn mỏi “mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể, chân trời không thể nào ngăn được”. Hơn nữa, nàng là một người con dâu hiếu kính, tận tụy chăm sóc khi mẹ chồng còn sống, chôn cất mẹ chồng khi mẹ qua đời (lo liệu như đối với mẹ đẻ mình).

Rồi đằng đẵng thời gian trôi qua, chồng ra lính trở về, cùng là lúc nàng bị nghi oan. Vũ Nương đã phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình: “Thiếp vốn con kẻ khó … mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”. Nàng đã nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định lòng chung thuỷ, hết lòng tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ bị tan vỡ. Dù họ hàng, làng xóm có bênh vực và biện bạch, Trương Sinh vẫn không tin. Bất đắc dĩ Vũ Nương thống thiết: “Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng … đâu có thể lên núi vọng phu kia nữa!”. Đó là hạnh phúc gia đình, niềm khao khát của cả đời nàng giờ đây tan vỡ. Tình yêu không còn, cả nỗi đau khổ chờ chồng giờ đây hóa đá….

Tuyệt vọng vì phải gánh chịu nỗi oan khuất tày trời không phương giãi bày, cứu chữa nàng đành mượn cái chết để chứng tỏ tiết hạnh trong sáng của mình. lời khấn nguyện với thần linh vô cùng thảm thiết: “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Nga Mĩ. Nhược bằng lòng chim, dạ cá, lừa dối chồng con, được xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ” lời khấn nguyện đã làm cho người đọc xót xa – con người rơi cảnh ngộ bế tắc, không thể tiếp tục sống để tự giải oan tình mà phải tìm đến cái chết để thần linh chứng giám.

Sau một năm ở thuỷ cung, khi nghe kể chuyện nhà, nàng đã ứa nước mắt khóc, nghĩ đến câu “ngựa Hồ gầm gió Bắc, chim Việt đậu cành Nam” rồi hiện về trên dòng nước cho thỏa lòng nhớ chồng, con.

Qua những hoàn cảnh khác nhau của vũ Nương, với những lời tự thoại của nàng, truyện đã khẳng định những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam – một người phụ nữ đẹp người, lại nết na, hiền thục, đảm đang, tháo vát, rất mực hiếu kính với mẹ chồng, giữ vẹn lòng chung thuỷ sắt son với chồng, hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình… lẽ ra phải được hạnh phúc trọn vẹn thế mà phải chết một cách oan uổng, đau đớn.

Cái chết của Vũ Nương có nhiều nguyên nhân sâu xa, bắt nguồn từ hiện thực nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến của xã hội cũ, với chế độ “nam quyền”, coi rẻ thân phận của người phụ nữ, rồi tính đa nghi, ghen tuông của chồng, thói hung bạo, gia trưởng của chồng đã làm khổ đau bao cuộc đời những người phụ nữ.

Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần không bình đẳng (thiếp vốn con nhà khó, được nương tựa nhà giàu). Xã hội phong kiến lại coi trọng “nam quyền”, hơn nữa Trương Sinh lại có tính đa nghi, đối với vợ thì phòng ngừa quá mức. Những chi tiết này chuẩn bị cho những hành động độc đoán của Trương Sinh sau này.

Khi đánh giặc trở về, Trương Sinh cũng mang một tâm trạng nặng nề: mẹ qua đời, con vừa học nói, lòng buồn bã. Trong hoàn cảnh như thế, lời của Bé Đản dễ kích động tính hay ghen của Trương Sinh: “Trước đây, thường có một người đàn ông đêm nào cũng đến…”

Điều đáng trách là thái độ và hành động độc đoán của Trương Sinh khi ấy. Không đủ bình tĩnh để tìm hiểu vấn đề, chàng bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm, không chịu nói ra duyên cớ ghen hờn. Cuối cùng, Sinh lại mắng nhiếc nàng và đánh đuổi nàng đi. Thái độ và hành động của Trương Sinh vô hình dung dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ Nương.

Hành động gieo mình xuống sông Hoàng Giang của Vũ Nương phản ánh một thực trạng về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ bị buộc chặt trong khuôn khổ khắt khe của lễ giáo, bị đối xử bất công, bị áp bức và chịu nhiều khổ đau, bất hạnh. Đó cũng chính là giá trị tố cáo hiện thực của tác phẩm. Đằng sau nỗi oan của người thiếu phụ Nam Xương, còn bao nhiêu oan tình bất hạnh mà người phụ nữ ngày xưa phải gánh chịu: Nàng Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, người cung nữ trong “cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, người phụ nữ lỡ duyên tình trong thơ Hồ Xuân Hương…

Phải nhận thấy rõ ràng với truyện ngắn đầu tiên viết bằng chữ Hán, Nguyễn Dữ đã có những mặt thành công trong nghệ thuật xây dựng truyện, xây dựng những đoạn đối thoại. Cách kể chuyện hấp dẫn, xây dựng tình tiết, thắt nút và gỡ nút thật bất ngờ, đầy kịch tính, càng làm cho nỗi oan tình của nhân vật hiện ra với tất cả nét thảm khốc.

“Thắt nút” truyện bằng yếu tố bất ngờ. Một câu nói ngây thơ nghe như thật của trẻ thơ mà gây bão tố dây chuyền trong cuộc đời. Bão tố nghi kỵ trong một đầu óc nam quyền độc đoán, thiếu trí tuệ; bão tố bất hoà dữ dội phá tan hạnh phúc của một gia đình êm ấm. Bão tố oan khiến phá nát cuộc đời của một người con gái trong trắng, phải kết thúc bi thảm trên một dòng sông.

“Gỡ nút” cũng bất ngờ bằng một câu nói trẻ thơ non dại (khi chỉ cái bóng của chàng Trương trên vách: “cha Đản lại đến kia kìa”) thì bao nhiêu oan gây thảm kịch trong phút chốc bỗng được sáng tỏ.

Truyện có những đoạn đối thoại và những lời tâm tình của nhân vật được sắp xếp đúng chỗ, làm cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc họa diễn biến tâm lí và tính cách nhân vật; lời nói của bà mẹ Trương Sinh nhân hậu, từng trải; lời lẽ của Vũ Nương bao giờ cũng chân thành, dịu dàng, mềm mỏng, có lý, có tình – lời của người phụ nữ hiền thục, đoan chính; lời của Bé Đản hồn nhiên, ngây thơ, thật thà.

Chuyện đáng lẽ có thể kết thúc ở đoạn “gỡ nút” truyện, chàng Trương Sinh tỉnh ngộ, thấu hiểu nỗi oan của Vũ Nương nhưng Nguyễn Dữ đã thêm phần Vũ Nương trở về dương thế, gặp chồng trong thoáng chốc. So với truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, Nguyễn Dữ đã tái tạo truyền kì từ cổ tích để nâng truyện lên những giá trị tư tưởng và thẩm mĩ mới. Điều đó, làm tăng thêm sức hấp dẫn của truyện và hoàn chỉnh tính cách nhân vật Vũ Nương, thoả mãn ước mơ của nhân dân là “ở hiền gặp lành”, người tốt sẽ được đền bù. Truyện kết thúc có hậu. Trong truyện, những yếu tố truyền kì tập trung ở phần sau của truyện như con rùa mai xanh được Phan Lang cứu, Vũ Nương được ở lại Thuỷ Cung, rồi hiện về với kiệu hoa rực rỡ trên sông… đó là những tình tiết kì ảo, không có thực nhưng đã tạo ra một thế giới nghệ thuật lung linh huyền ảo.

Số phận và cuộc đời thực sự vẫn là thực xưa nay. Yếu tố hoang đường truyền kì không thể cứu được cuộc đời Vũ Nương với số phận bi thảm của nàng. Vũ Nương muốn sống lại mà không được sống, muốn trở về với chồng con và quê hương mà không thể trở về được.

Truyện “Người con gái Nam Xương” có giá trị hiện thực tố cáo và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Nghĩ về Vũ Nương và biết bao thân phận người phụ nữ khác trong xã hội phong kiến được phản ánh trong các tác phẩm văn học cổ, chúng ta càng thấy rõ giá trị cuộc sống của những người phụ nữ Việt Nam trong một xã hội tốt đẹp hôm nay. Họ đang vươn lên làm chủ cuộc đời, sống bình đẳng, hạnh phúc với chồng con và được đề cao nhân phẩm trong xã hội của thời đại mới.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 16

Nguyễn Dữ là người học rộng tài cao, ông sống trong thời gian nhà Lê bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến tranh quyền, đoạt vị với nhau. Bởi vậy ông ra làm quan không lâu sau đó lui về ở ẩn. Thời gian lui về ở ẩn, ông sưu tầm các truyện dân gian để sáng tác lại thành tập “Truyền kì mạn lục”. Trong số hai mươi truyện của truyền kì mạn lục, nổi bật nhất là tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương. Tác phẩm vừa giàu giá trị hiện thực vừa thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của tác giả.

Tác phẩm xoay quanh số phận và cuộc đời nhân vật Vũ Nương. Vũ Nương là người con gái xinh đẹp: “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”, nàng mang vẻ đẹp toàn diện cả về hình thức và tâm hồn. Nàng là đại diện tiêu biểu cho vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Chi tiết Trương Sinh “mến về dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về” càng nhấn mạnh, tô đậm hơn nữa vẻ đẹp nhan sắc và phẩm hạnh của nàng.

Vũ Nương là người mang trong mình nhiều phẩm chất cao quý. Trước hết, nàng là một người vợ, người mẹ đảm đang, người con dâu hiếu thảo, tận tụy với mẹ chồng. Khi chồng đi lính, thân là phụ nữ nhưng nàng đã một mình đứng ra gánh vác công việc gia đình. Mẹ chồng già yếu, nhớ con mà đổ bệnh nàng hết sức chăm sóc, “thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn” mong cho mẹ mau mau khỏi bệnh.

Trong xã hội phong kiến xưa, mối quan hệ giữa mẹ chồng nàng dâu thường chỉ mang tính chất ràng buộc, ông cha ta vẫn thường có câu: “Trời mưa ướt lá đài bi/ Con mẹ, mẹ xót, xót gì con đâu” hay “Thật thà cũng thể lái trâu/ Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng”,…

Nhưng những lời bà mẹ trăng trối cuối cùng trước khi mất đã khẳng định lòng hiếu thảo, tình cảm chân thành, sâu nặng của Vũ Nương với mẹ chồng. Những lời cảm tạ của bà mẹ đã cho thấy tấm lòng yêu thương hết mực của nàng với bà bởi vậy bà cũng coi Vũ Nương như con gái của mình vậy. Mấy ai trong xã hội đó lại được lòng mẹ chồng yêu mến đến như vậy. Khi bà mất, nàng lo tang ma chu đáo như cho cha mẹ đẻ của mình.

Qua những hành động đó ta thấy Vũ Nương là nàng dâu hết sức nết na, hiếu thảo, tiếng thơm của nàng còn để lại mãi muôn đời.Không chỉ vậy nàng còn là người vợ nết na, thủy chung, giàu lòng vị tha. Khi mới cưới, Vũ Nương hiểu rõ chồng mình có tinh đa nghi, hay ghen và hay phòng ngừa quá mức, bởi vậy nàng luôn giữ gìn khuôn phép, để hai vợ chồng không phải chịu cảnh bất hòa. Chính vậy, trong suốt những năm tháng chung sống bên nhau, trước khi Trương Sinh ra trận gia đình nàng luôn được sống trong cảnh đầm ấm, hạnh phúc.

Ngày Trương Sinh ra trận, tiễn chồng những lời dặn dò không phải công danh phú quý mà là “chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. Ba năm xa chồng, một mình sinh con, nàng nhớ chồng khôn nguôi, nàng bỏ cả điểm trang, dành tất cả thời gian chăm sóc gia đình, làm tròn bổn phận của người vợ, người mẹ. Ngay cả khi Trương Sinh trở về nghi ngờ nàng thất tiết nàng cũng chỉ biết khóc và thanh minh bằng những lời lẽ tha thiết, dịu dàng mong chồng hiểu cho tấm lòng của mình.

Khi bị chồng nghi oan, mắng nhiếc, đánh đuổi đi, không cho cơ hội giãi bày, giải thích nàng chỉ đau khổ, cố gắng thanh minh mà không hề oán hận với người chồng hẹp hòi, ích kỉ. Được Linh Phi cứu, sống cuộc đời an nhàn, bất tử nhưng lòng nàng lúc nào cũng hướng về quê hương, về gia đình bé nhỏ của mình. Việc nàng gặp lại Phan Lang dưới thủy cung và gửi chiếc thoa về cho chồng cho thấy nàng đầy vị tha, sẵn sàng tha thứ cho chồng.

Khoảnh khắc ẩn hiện, mờ ảo trên bến sông Hoàng Giang, Vũ Nương không một lời oán hận, trách móc: “Đa tạ tình chàng. Thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa”. Qua đây ta có thể thấy, Vũ Nương không chỉ là người phụ nữ đức hạnh, người con dâu tốt nết mà còn là một người phụ nữ bao dung, giàu lòng vị tha với người chồng đã đẩy đến bước đường cùng. Vũ Nương là hiện thân cho vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam thảo hiền, đức hạnh.

Mặc dù mang trong mình đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp để được hưởng cuộc sống êm đềm, hạnh phúc nhưng cuộc đời Vũ Nương lại đầy oan nghiệt, trái ngang. Bắt đầu ngay từ cuộc hôn nhân của nàng, không có sự đăng đối giữa hai gia đình, về phẩm chất giữa hai con người: nàng hội tụ đầy đủ vẻ đẹp phẩm chất: công-dung-ngôn-hạnh, nhưng Trương Sinh lại là kẻ ít học, đa nghi, hay ghen.

Lấy chồng không bao lâu, Trương Sinh phải đi lính, nàng sống trong nỗi cô đơn, vất vả: gánh vác việc gia đình, nuôi dạy con thơ và chăm sóc mẹ già; nỗi nhớ chồng, lo lắng cho chồng nơi biên ải tha thiết đêm ngày. Đến khi chồng về lại phải gánh nỗi oan lạ, oan thất tiết mà không có cơ hội tìm hiểu nguyên do. Cuối cùng nàng đã phải lấy cái chết để chứng minh tấm lòng thủy chung, trong sạch của mình. Đây là phản ứng dữ dội và quyết liệt của Vũ Nương để bảo vệ nhân phẩm cũng như cho thấy nỗi bất hạnh tột cùng của nàng.

Dù sống bất tử dưới thủy cung nhưng nàng không hề hạnh phúc, bởi hạnh phúc thực sự của con người là ở trần thế, được chung sống, được hưởng không khí đầm ấm của gia đình. Nhưng điều ấy đối với nàng mãi mãi không thể làm được nữa. Thân ở thủy cung, lòng lại một mực hướng về dương gian, nơi có chồng, có con khiến cho nỗi bất hạnh của nàng càng được đậm tô hơn nữa. Vũ Nương là tiêu biểu cho phận bạc của biết bao phụ nữ trong xã hội phong kiến bất công, tàn bạo, nặng nề lễ giáo phong kiến.

Ngoài nhân vật Vũ Nương, ta cũng không thể quên một Trương Sinh hồ đồ đã đẩy người đầu gối tay ấp với mình đến chỗ chết. Trương Sinh là con nhà trọc phú, ít học, tính tình cục cằn, hay ghen. Cũng bởi do ít học nên khi chiến tranh xảy ra anh ta là người đầu tiên trong danh sách đi lính. Cũng bởi tính đa nghi, hay ghen đã làm cho Trương Sinh mờ mắt, chỉ nghe lời từ đứa con ngây thơ không chịu nghe lời phân trần của vợ.

Chính Trương Sinh là người đã trực tiếp đẩy Vũ Nương phải tìm đến cái chết. Khi hiểu ra mọi chuyện thì đã quá muộn màng. Trương Sinh phải ôm nỗi ân hận, nỗi đau trong suốt phần đời còn lại. Trương Sinh chính là đại diện tiêu biểu cho những người đàn ông vũ phu, những lễ giáo phong kiến hà khắc đã đẩy người phụ nữ rơi vào bi kịch.

Tác phẩm đã xây dựng được tình huống truyện độc đáo, chi tiết mang tính thắt nút, đẩy câu chuyện lên cao trào, đỉnh điểm: cái bóng là mấu chốt của câu chuyện, là chi tiết thắt nút cũng như cởi nút cho diễn biến tác phẩm. Nghệ thuật kể chuyện đặc sắc: dẫn dắt tình huống hợp lí. Kết hợp hài hòa giữa hiện thực và kì ảo. Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng là một điểm nhấn, nhân vật được miêu tả nội tâm khá phong phú. Những yếu tố đó góp phần tạo nên sự thành công cho tác phẩm.

Chuyện người con gái Nam Xương thấm đẫm giá trị hiện thực và nhân đạo. Tác phẩm là tiếng nói cảm thương cho số phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đồng thời cũng lên án tố cáo xã hội nam quyền và chiến tranh phi nghĩa đã tước đoạt hạnh phúc và đẩy con người đến bước đường cùng.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 17

Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia đúng như nhận định của Nguyễn Du. Người phụ nữ dù được sinh ra trong gia đình thuộc thành phần giai cấp nào, dù tốt đẹp nết na cũng đều cùng chung số phận “bạc mệnh” như nhau. Số phận hẩm hiu đáng thương ấy đã được các nhà văn phản ánh lại trong tác phẩm của mình.

Có lẽ tiêu biểu nhất là Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, một tác phẩm nổi tiếng của thế kỉ XVI (Trong tập Truyền kì mạn lục). Đây là một tác phẩm có giá trị sâu sắc về nhiều mặt và đã gây được cảm xúc trong lòng người đọc ở mọi thế hệ.

Chuyện người con gái Nam Xương là một tác phẩm có giá trị hiện thực sâu sắc. Xã hội thời ấy là một xã hội loạn lạc, chiến tranh xảy ra liên miên đã làm cho cuộc sống của người dân thật điêu linh khốn khổ. Vì vậy mà họ rất chán ghét chiến tranh. Qua buổi tiễn đưa Trương Sinh ra trận, với những lời dặn dò của bà mẹ, lời tâm sự của Vũ Nương với chồng, ta cũng thấy được thái độ kinh sợ chiến tranh của người dân lúc bấy giờ.

Chính chiến tranh đã làm cho vợ phải xa chồng, cha phải xa con… và nó còn là nguyên nhân gây ra bao nỗi bất hạnh cho người 1 vợ nữa. Trương Sinh đi lính, Vũ Thị Thiết ở nhà một mực thủy chung với chồng, thay chồng gánh vác hết mọi công việc gia đình: sinh con, chăm sóc mẹ chồng, lo toan mọi công việc trước sau. Mẹ chồng bệnh lo thuốc thang, mẹ mất lo ma chay, cúng tế đàng hoàng.

Vậy mà khi chồng trở về, nàng chưa được vui sum họp lại gặp tai họa bất ngờ. Bởi anh chồng thất học lại có tính đa nghi, ghen tuông mù quáng chỉ nghe theo lời đứa trẻ ngây thơ không biết xét suy đã vội nghi oan cho vợ. Chỉ vì “cái bóng” vô hình mà Vũ Nương bị mắc oan. Nỗi oan động đất trời lại không thể giãi bày được cùng ai. Bởi cái lễ giáo phong kiến, cái thế lực nam quyền không cho phép người phụ nữ được lên tiếng minh oan. Họ không có một quyền hành gì cả, không được ai bênh vực hay chở che. Cuối cùng nàng phải mang mối oan tình xuống dòng nước bạc.

Số phận của người phụ nừ trong xã hội phong kiến là như thế đó! Sợi dây lễ giáo trói buộc người phụ nữ, họ phải mang số phận “bạc mệnh” đến hết cuộc đời. Thậm chí khi được giải oan, dẫu Vũ Nương rất thương nhớ chồng con nhưng cũng không thể nào trở lại cõi trần được vì nơi đó luôn gieo tai họa cho người phụ nữ. Đây là một chi tiết mang giá trị tố cáo cao.

Nó khẳng định được bản chất xấu xa của xã hội phong kiến, một nhà tù giam hãm cuộc đời của người phụ nữ suốt bao thế kỉ. Cả tác phẩm là một bức tranh hiện thực sinh động phản ánh được thân phận đáng thương của người phụ nữ trong xã hội xưa kia.

Đằng sau nỗi khổ của Vũ Nương, ta còn thấy tấm lòng nhân đạo đáng quý của nhà văn. Xuất phát từ tấm lòng yêu thương trân trọng người phụ nữ, Nguyễn Dữ tập trung ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người con gái Nam Xương: đảm đang, hiếu nghĩa, thủy chung. Khi chồng đi lính, nàng một mình làm hết cả vai trò của chồng lẫn vợ không một chút than vãn: nuôi dạy con thơ, chăm sóc mẹ già.

Nàng luôn giữ trọn đạo hiếu đối với cha mẹ, phụng dưỡng mẹ chồng như mẹ ruột. Đối với chồng, trước sau nàng vẫn giữ trọn nghĩa tình. Biết chồng vốn tính đa nghi, “nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến bất hòa”. Khi bị chồng nghi oan, không thể giãi bày được, nàng đã lấy cái chết để chứng thực nghĩa tình của mình.

Lời nguyện thề của Vũ Nương trước khi chết cũng chứng tỏ được tấm lòng trong trắng, thủy chung của nàng. “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mỵ Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mỹ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”. Vũ Nương tin ở tấm lòng thủy chung trong trắng của mình nên sau khi chết đã được như lời nguyền.

Tiết nghĩa của người con gái Nam Xương như thế! Câu chuyện càng thương tâm, tấm lòng nàng lại càng sáng tỏ. Vũ Thị Thiết là hiện thân của tâm hồn cao đẹp. Trong lòng nàng như không hề gợn một mảy may vẩn đục nào ngoài lòng yêu thương chồng, thương con. Tinh thần nhân đạo của tác phẩm còn bộc lộ rõ rệt trong việc phản ánh nỗi oan của Vũ Nương. Trong khi chế độ phong kiến coi thường quyền sống của người phụ nữ, không hề quan tâm đến nỗi khổ của họ, nguyện vọng của họ, thì truyện ngắn này đã đề cập tới nỗi khổ ấy, xót thương đến nỗi oan ấy.

Bên cạnh đó, Nguyễn Dữ còn đề cao một khát vọng của họ: được tôn trọng. Sau khi vợ chết không chỉ chàng Trương hiểu ra nỗi oan của nàng và lập đàn giải oan, mà tấm lòng trong sáng thủy chung ấy, nỗi khổ ấy còn cảm động đến thần linh. Hình ảnh “Vũ Nương ngồi kiệu hoa, theo sau đó có hơn năm mươi chiếc xe, cờ tán võng lọng rực rỡ” thật là đẹp đẽ. Đó là phần thưởng, là niềm an ủi cho nàng. Đồng thời nó cũng thể hiện được ước mơ của tác giả, của nhân dân ta ngày xưa.

Bên cạnh đó, truyện còn có nhiều thành công về mặt nghệ thuật.

Đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện giàu kịch tính. Những chỗ thắt nút, mở nút, bất ngờ mà vẫn hợp lí. Người đọc bất ngờ vì những câu nói ngây thơ của đứa trẻ lần đầu gặp cha, sửng sốt và thương tâm trước cái chết của người vợ, càng bàng hoàng khi đọc đến chi tiết: đứa con chỉ bóng cha in trên vách mà nói: “Cha Đản lại đến kia kìa!”. Thì ra nguyên nhân nỗi đau khổ, nỗi oan ức của một con người, sự tan nát của một gia đình chỉ vì một “cái bóng” qua lời nói của trẻ thơ. Chính chi tiết đó làm nỗi oan nổi rõ lên với tất cả cái bi thảm của nó.

Các nhân vật trong truyện tuy chưa thật sự có cá tính rõ rệt nhưng cũng biểu hiện được với một vài đặc điểm khá sắc sảo: đứa trẻ thì vô tư, người vợ thảo hiền thủy chung cam chịu, người chồng vừa nóng nảy hay ghen lại vừa cả tin nhẹ dạ. Truyện lại kết hợp chất hiện thực với những yếu tố hoang đường kì diệu gây hứng thú cho người đọc.

Tuy nhiên do được viết bằng chữ Hán, với những cách diễn đạt bóng bẩy và ít nhiều công thức, ngôn ngữ của truyện còn gây cho ta cảm giác thiếu tự nhiên ta chưa biết được thực sự lời nói của cha ông ta ngày ấy. Nhưng dẫu sao, đây cũng là một truyện ngắn đầu tiên của văn học Việt Nam có những thành công sắc sảo.

Tóm lại, Chuyện người con gái Nam Xương là một câu chuyện tình đầy oan khuất. Qua truyện, ta hiểu được sự bất công phi lí của xã hội phong kiến đã đem đến nỗi đau khổ cho người phụ nữ đẹp trong văn chương Việt Nam thế kỉ XVI làm sáng ngời phẩm chất đáng quý của người phụ nữ Việt Nam. Dẫu đã trải qua nhiều thế kỉ, nhưng thời gian vẫn không làm giảm đi giá trị của tác phẩm văn học đặc sắc này. Tác phẩm là một trong những viên đá đầu tiên đã góp phần xây dựng nên ngôi nhà lớn văn xuôi Việt Nam.

Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 18

“Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong hai mươi truyện được trích từ tập “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ do ông sưu tầm và sáng tác lại dựa trên cốt truyện “Vợ chàng Trương”. Ông vốn là người tỉnh Hải Dương, là học trò của Tuyết Giang phu tử Nguyễn Bỉnh Khiêm, sống ở đầu thế khỉ XVI. Ông học rộng, tài cao nhưng lại xin nghỉ để về nhà để viết sách. “Chuyện người con gái Nam Xương” cũng là một tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Dữ.

Qua truyện ngắn, truyện là những lời ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam qua hình ảnh nhân vật Vũ Nương. Ngay từ đầu tác phẩm, Nguyễn Dữ đã dành hết lời ngợi ca nhân vật Vũ Nương – là một cô gái tài đức vẹn toàn, công dung ngôn hạnh đầy đủ, đã thế “tính đã thùy mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp”. Chỉ với vài từ ngắn gọn thế nhưng hình ảnh Vũ Nương đã hiện lên là một cô gái có nhan sắc xinh đẹp, lại còn có phẩm chất tốt đẹp cao quý, đó là vẻ đẹp vẹn toàn. Chính vì thế nên dẫu nghèo khó nhưng Vũ Nương vẫn được Trương Sinh con trai một nhà hào phú trong làng “xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”, điều này thể hiện Vũ Nương là người con gái xinh đẹp, để cho Trương Sinh phải trân trọng. Không chỉ đẹp người, nàng còn đẹp nết, là người vợ chung thuỷ, hết mực thương yêu chồng. Lúc mới kết duyên với Trương Sinh, Vũ Nương hết mực thương yêu và lo nghĩ cho chồng, biết chồng có tính hay ghen lại nghi kỵ thế nên trong cuộc sống vợ chồng nàng hết sức “giữ gìn khuôn phép, không lúc nào để vợ chồng phải thất hòa”. Rõ ràng phải là người vợ khéo léo, hết mực thương yêu, chăm sóc gia đình thì Vũ Nương mới có thể làm như vậy. Rồi khi Trương Sinh đi lính, hạnh phúc chồng vợ sum vầy chưa được bao lâu, chiến tranh xảy ra, chồng phải ra trận, nàng tiễn chồng lên đường với tâm trạng đau khổ. Lời nói với chồng trong giờ phút chia tay thật chân tình, cảm động làm cho “mọi người đều ứa hai hàng lệ”. Như những phu nhân khác chỉ mong chồng có công danh còn nàng chẳng cầu mong chồng đeo ấn phong hầu mà chỉ cầu chồng được hai chữ bình an, cũng bày tỏ nỗi mong nhớ, lo lắng, sự đồng cảm, chia sẻ của mình khi chồng đi vào nơi hiểm trở chẳng may có cớ sự. Lời nàng thiết tha, sâu sắc bộc lộ rõ tình cảm vợ dành cho người chồng đi chinh chiến xa xôi, khiến ai nấy đều cảm động khôn nguôi. Trương Sinh đi lính chưa đầy mười ngày thì Vũ Nương lại sinh con thế nhưng nàng vẫn một dạ một lòng chăm con khôn lớn, đợi cho đến ngày giặc tan. Rồi đằng đẵng thời gian trôi qua, chồng ra lính trở về, cùng là lúc nàng bị nghi oan. Vũ Nương đã phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình: “Thiếp vốn con kẻ khó … mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”.Nàng nhẹ nhàng, khuyên nhủ, hết sức van lơn, phân trần cùng mọi lí lẽ để thuyết phục chồng. Dù họ hàng, làng xóm đều bênh vực nhưng bản tính Trương Sinh vẫn không tin. Bất đắc dĩ Vũ Nương đành thống thiết, đành dùng cái chết để minh oan. Số phận oan trái, đắng cay của nàng còn được thể hiện trong chi tiết mang vẻ đẹp lung linh, kì ảo nơi khói sóng Trường Giang. Cái vẻ đẹp lung linh, lộng lẫy đến đâu cũng không thể khỏa lấp được sự thật là nàng ẩn mình ở chốn không có thực, rồi khói hương của đàn tràng giải oan dẫu có nghi ngút khói sương cũng không xoá nhoà được khoảng cách âm dương đôi ngả, vợ chồng chia lìa, mẹ con xa cách.

Truyện có sự đan xen của các yếu tố hoang đường kì ảo và những chi tiết có thật làm câu chuyện thêm hấp dẫn. Cách xây dựng truyện với tình tiết độc đáo, đẩy mâu thuẫn lên cao trào, rồi lại giải quyết cách hợp lí, các yếu tố tự sự, miêu tả biểu cảm kết hợp hài hoà.

Trên đây là các bài văn mẫu Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Các em học sinh có thể tham khảo những bài văn mẫu hay trong quá trình học tập.

Bản quyền bài viết thuộc trường Cao Đẳng Kiên Giang. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận!
Nguồn chia sẻ: Trường Cao Đẳng Kiên Giang (Kgtec.edu.vn)

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Check Also
Close
Back to top button